Căn cứ vào
Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 về sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992;
Căn cứ vào
Điều 12 và
Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Sau khi nghe Giám đốc Sở Thuỷ sản, Phó Trưởng ban Tổ chức Chính quyền, Giám đốc Sở Văn hoá - thông tin; Phó Giám đốc Sở Tài chính - Vật giá được sự uỷ nhiệm của Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo phương án điều chỉnh quy hoạch tổng thể thuỷ sản tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 và tình hình thực hiện Đề án Tổng quan quy hoạch đào tạo cán bộ đến năm 2000-2010, Đề án Xây dựng gia đình văn hoá tỉnh Bến Tre giai đoạn 1999-2000 và 2010, tờ trình xin điều chỉnh một phần giá đất ban hành kèm theo Quyết định 185/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
Sau khi nghe báo cáo thẩm định của Ban Kinh tế - Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã hội và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
I- Về điều chỉnh quy hoạch tổng thể thuỷ sản tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và tầm nhìn 2020:
Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí phương án điều chỉnh và bổ sung quy hoạch tổng thể thuỷ sản tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 với các chỉ tiêu cơ bản sau:
Đến năm 2010:
Tổng sản lượng thuỷ sản: 246.380 tấn (khai thác 86.000 tấn, nuôi trồng 160.380 tấn).
Chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu: 27.341 tấn. Trong đó: tôm 18.776 tấn.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu: 208,205 triệu USD.
Tổng diện tích nuôi: 49.147 ha, riêng nuôi tôm là 35.989ha trong đó nuôi chuyên tôm sú là 25.244ha.
Tổng số tàu thuyền là 2.100 chiếc với tổng công suất 178.500CV.
Giải quyết việc làm cho 73.015 hộ có thu nhập chính từ hoạt động thuỷ sản. Có tối thiểu 20% lao động qua đào tạo, tập huấn kỹ thuật.
Đến năm 2020:
Tổng sản lượng thuỷ sản: 377.801 tấn (khai thác 100.000 tấn, nuôi trồng 277.801 tấn).
Chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu: 58.023 tấn. Trong đó: tôm 42.561 tấn.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu: 661,439 triệu USD.
Tổng diện tích nuôi: 65.000 ha, riêng nuôi tôm là 45.570 ha trong đó nuôi chuyên tôm sú là 25.647 ha.
Tổng số tàu thuyền là 2.180 chiếc với tổng công suất 191.840CV.
Giải quyết việc làm cho 120.944 người, 60.472 hộ có thu nhập chính từ hoạt động thuỷ sản. Có tối thiểu 30% lao động qua đào tạo, tập huấn kỹ thuật.
Khi triển khai thực hiện quy hoạch điều chỉnh và bổ sung, Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý một số giải pháp:
Cần có sự thống nhất, đồng bộ giữa các hoạt hoạch phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thuỷ sản, không tạo ra mâu thuẫn nông - lâm - ngư.
Huy động sức mạnh tổng hợp (tỉnh-TW) để xây dựng cơ sở hạ tầng, có chính sách phát triển kinh tế trang trại, quản lý đất đai, tín dụng để khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế tham gia đầu tư thực hiện quy hoạch.
Phát triển nguồn nhân lực đồng bộ với tốc độ phát triển kinh tế thuỷ sản.
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong nuôi, khai thác, chế biến thuỷ sản.
Có giải pháp bảo vệ môi trường trong sản xuất thuỷ sản.
Đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước để thu hút nguồn lực đầu tư song song với mở rộng và hoàn thiện thị trường các sản phẩm thuỷ sản.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉnh sửa, bổ sung quy hoạch theo ý kiến đóng góp của Ban Kinh tế ngân sách, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt chính thức và tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả theo các mục tiêu đề ra.
II- Về Đề án Xây dựng gia đình văn hoá tỉnh Bến Tre giai đoạn 1999-2000 và đến 2010:
Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí với nội dung báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh sơ kết 3 năm thực hiện Đề án Xây dựng gia đình văn hoá tỉnh Bến Tre giai đoạn 1999-2000 và đến 2010.
Qua 3 năm triển khai thực hiện, hầu hết các chỉ tiêu đề ra đều đạt và vượt tạo được sự đồng tình tự nguyện hưởng ứng tích cực tham gia của nhân dân, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở nông thôn. Tuy nhiên chất lượng phong trào chưa cao, chưa đồng bộ, chưa bền vững.
Để tiếp tục thực hiện hoàn thành mục tiêu đề án đến năm 2005 và 2010, cần tập trung chỉ đạo thực hiện một số biện pháp như sau:
Củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp, tạo khả năng phối hợp chặt chẽ, triển khai kế hoạch đến tận cơ sở. Có biện pháp giữ vững chất lượng phong trào ở những nơi đã đạt chuẩn. Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hoá trong cơ quan, đơn vị.
Cải tiến công tác tập huấn cho cán bộ xã, ấp, tổ nhân dân tự quản, hỗ trợ các nơi phong trào còn yếu. Đầu tư kinh phí tương ứng với sự phát triển của phong trào.
Phối hợp việc vận động xây dựng gia đình văn hoá với hoạt động tuyên truyền ngày Gia đình Việt Nam hàng năm (28/6). Phát huy vai trò nồng cốt của cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, Mặt trận đoàn thể trong xây dựng phong trào.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện đề án đạt hiệu quả cao nhất.
III- Về Đề án Tổng quan quy hoạch đào tạo cán bộ đến năm 2000 và 2010:
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Đề án Tổng quan quy hoạch đào tạo cán bộ đến năm 2000 và 2010 và kế hoạch đào tạo 2002-2005 do Uỷ ban nhân dân tỉnh trình tại kỳ họp.
Qua 3 năm thực hiện đề án, công tác đào tạo và quy hoạch đội ngũ cán bộ theo quan điểm đổi mới đã đi vào nề nếp góp phần nâng cao một bước chất lượng đội ngũ cán bộ công chức vươn lên đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, so với yêu cầu cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá tỉnh nhà, đội ngũ cán bộ hiện tại còn thiếu và yếu nhất là cấp cơ sở.
Để tiếp tục thực hiện Đề án Tổng quan quy hoạch đào tạo đến năm 2005 và 2010 có trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo tiêu chuẩn. có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, Hội đồng nhân dân thống nhất kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức năm 2002-2005 và lưu ý một số giải pháp tổ chức thực hiện:
Củng cố và tăng cường cơ sở vật chất, chất lượng giảng dạy các cơ sở đào tạo chính trị, nghiệp vụ, đa dạng hoá hình thức đào tạo, khuyến khích phong trào tự học trong cán bộ công chức.
Tăng cường đầu tư thực hiện chính sách trợ cấp đào tạo để động viên cán bộ công chức nâng cao trình độ, năng lực đồng thời thực hiện tốt chính sách thu hút cán bộ công chức có trình độ, năng lực tốt về công tác tại tỉnh.
Tiếp tục chấn chỉnh công tác quy hoạch cán bộ theo tinh thần Nghị quyết TW 3 (khóa VIII): xác lập quy hoạch cán bộ gắn với đào tạo phù hợp với quy hoạch và sử dụng ưu tiên cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội quan trọng của tỉnh, cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức và diện quy hoạch, cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ cơ sở, chú ý bồi dưỡng đào tạo cán bộ nữ, trẻ.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện đề án đạt kết quả tốt nhất.
IV- Về điều chỉnh một phần giá đất ban hành kèm theo Quyết định 185/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh:
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất đề nghị chỉnh lại giá đất nuôi trồng thuỷ sản và mức giá để tính tiền thuê đất của các doanh nghiệp theo Công văn số 893/CV-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh trình tại kỳ họp.
Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh điều chỉnh lên hạng đất theo kế hoạch sử dụng đất hàng năm khi loại đất đó có đủ điều kiện lên hạng theo quy định.
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 7 năm 2002./.