NGHỊ QUYẾT Bổ sung một số biện pháp tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 2004 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ vào
Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992;
Căn cứ vào
Điều 11-16 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ vào Nghị quyết số 78/2003/NQ-HĐND ngày 16/12/2003 của Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI “về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2004”;
Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, kiến nghị của Uỷ ban MTTQ VN tỉnh, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất với báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về “Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và những giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2004”.
I. Đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm 2004:
Sáu tháng đầu năm 2004, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Bến Tre gặp nhiều khó khăn, như: nắng hạn kéo dài, nước mặn xâm nhập sâu, dịch tôm và cúm gia cầm gây nhiều thiệt hại, giá một số nguyên vật liệu và hàng tiêu dùng tăng làm tăng chi phí sản xuất, thị trường xuất khẩu thuỷ sản có những biến động bất lợi…nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh đã kịp thời có những giải pháp điều hành phù hợp, hạn chế khó khăn, huy động được nhiều nguồn lực tập trung cho đầu tư phát triển, nên tình hình kinh tế xã hội trong tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng khá so với cùng kỳ: về nông nghiệp, việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao hiệu quả tiếp tục được đẩy mạnh. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng có hiệu quả. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ có mức tăng khá. Thu ngân sách đạt kế hoạch và đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu chi theo dự toán. Vốn XDCB được đầu tư tập trung, tiến độ thi công một số công trình nhanh, sớm phát huy hiệu quả, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành thêm một số chính sách để thu hút vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển tăng tốc. Các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá - xã hội, thể dục - thể thao có nhiều mặt chuyển lên tốt, số hộ nghèo giảm, đời sống nhân dân trên nhiều địa bàn được cải thiện. Quốc phòng an ninh được củng cố và giữ vững.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP và nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế đạt thấp so với nghị quyết. Công nghiệp - TTCN, du lịch tăng chậm; kim ngạch xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lê hộ sử dụng điện, số lao động được giải quyết việc làm…và một số sản phẩm công nghiệp đạt rất thấp so với chỉ tiêu đã đề ra. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng còn khó khăn làm chậm thực hiện các dự án. Công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông chưa được đầu tư thoả đáng, hiệu quả thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và xuất khẩu lao động khó đạt chỉ tiêu. Tiến độ xây dựng và phát triển các đề tài khoa học còn chậm. Việc quản lý hoạt động y tế tư, giá thuốc và vệ sinh, an toàn thực phẩm vẫn còn lỏng lẻo. An ninh một số nơi không ổn định, tệ nạn ma tuý, mại dâm, trộm cắp, cướp giật, cờ bạc có nơi vẫn còn nhiều. Tình hình khiếu kiện về đất đai được tập trung giải quyết tốt nhưng vẫn còn một số vụ tái khiếu phức tạp và kéo dài. Án dân sự, án hôn nhân và gia đình còn tồn đọng nhiều. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong 6 tháng cuối năm 2004.
II. Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các chỉ tiêu chủ yếu còn lại về kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2004 như sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP tăng trên 13%.
Giá trị sản xuất nông lâm – ngư nghiệp tăng trên 10%.
Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 20%.
Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 12,5%.
Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 67 triệu USD.
Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn: 256,7 tỷ đồng.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đến cuối năm xuống còn 5%.
Tỷ lệ hộ dân dược sử dụng điện đạt 83%.
III. Những giải pháp bổ sung để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2004:
Các nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch còn lại theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh 6 tháng cuối năm 2004 là rất nặng, Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các giải pháp cụ thể mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa ra nhưng phải tập trung chỉ đạo, điều hành để các ngành, các địa phương thực hiện tốt Nghị quyết. Cần lưu ý trên một số lĩnh vực sau:
1. Trong lĩnh vực kinh tế:
Sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản:
Phải có những biện pháp đồng bộ về giống, khoa học công nghệ, thuỷ lợi…để thúc đẩy nhanh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với quy hoạch từng vùng. Phát triển mạnh mô hình xen canh hợp lý, các mô hình trang trại, hợp tác để nâng cao hiệu quả sản xuất, nhằm đạt mục tiêu bình quân 50 triệu đồng/ha. Cần quản lý chặt chẽ mùa vụ, chất lượng giống và môi trường nuôi thuỷ sản, hạn chế dịch bệnh và rủi ro. Tập trung đầu tư cho các vùng nguyên liệu chế biến xuất khẩu và vùng nước lợ.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và XDCB:
Tập trung xây dựng Khu Công nghiệp Giao Long theo hướng vừa giải phóng mặt bằng, vừa xây dựng hạ tầng, vừa cho các nhà đầu tư vào xây dựng.
Tiếp tục đầu tư phát triển các làng nghề, đầu tư mở rộng chế biến ngành dừa, thuỷ sản, tạo ra nhiều sản phẩm nâng cao sức cạnh tranh.
Tổ chức thực hiện cụ thể, thống nhất các chính sách khuyến khích để động viên cho được các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư phát triển sản xuất.
Đẩy nhanh việc sắp xếp và cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tiếp tục tháo gở các vướng mắc trong khâu đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh việc đầu tư XDCB.
Về thương mại – du lịch:
Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu. Đầu tư cải tạo, nâng cấp các chợ thị trấn, chợ nông thôn, xây dựng các chợ đầu mối, khai thác tối đa các nguồn hàng để nâng cao giá trị xuất khẩu.
Tiếp tục triển khai thực hiện các đề án phát triển du lịch, tạo sự chuyển biến mới về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.
Về tài chính – ngân hàng:
Tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển, tích cực tranh thủ các nguồn vốn của TW, vận động phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Thành lập ban huy động vốn từ tỉnh đến cơ sở để có sự chỉ đạo tập trung.
Tập trung thu ngân sách, đảm bảo thu đạt và vượt chỉ tiêu. Tiếp tục triển khai tốt các hoạt động tín dụng của ngân hàng, huy động tốt các nguồn vốn đồng thời cho vay đáp ứng yêu cầu mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Trong lĩnh vực giáo dục - y tế - văn hoá, xã hội:
Về giáo dục – đào tạo:
Tiếp tục thực hiện tốt chương trình kiên cố hoá trường lớp, rà soát, điều chỉnh, bố trí hợp lý đội ngũ giáo viên, chuẩn bị tốt mọi điều kiện cho năm học mới. Tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Thí điểm xây dựng trung tâm học tập công đồng xã, phường.
Về y tế:
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, ngăn chặn dịch bệnh sốt xuất huyết, đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Nâng cao chất lượng khám và điều trị nhất là tuyến huyện và tuyến cơ sở; thường xuyên kiểm tra, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Về văn hoá - thông tin, các vấn đề xã hội:
Tập trung tuyên truyền phục vụ các ngày lễ hội, xây dựng các chủ để tuyên truyền cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị 6 tháng cuối năm, mở các chuyên trang, chuyên mục thật phong phú, hấp dẫn để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền.
Tăng cường kiểm tra các hoạt động văn hoá – văn nghệ. Bài trừ các văn hoá xấu xâm nhập.
Củng cố và nâng cao chất lượng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá.
Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, tổng điều tra lao động thất nghiệp và lao động thiếu việc làm để có kế hoạch giải quyết việc làm cho người lao động theo chỉ tiêu đề ra. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lực lượng lao động đạt chỉ tiêu Nghị quyết năm 2004.
Tiếp tục thực hiện tốt chính sách đối với người có công, chính sách xã hội. Có kế hoạch xoá nghèo đối với từng hộ, từng xóm, ấp và kế hoạch chống tái nghèo.
3. Về an ninh quốc phòng và thi hành pháp luật:
Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội nhất là các loại tội phạm nguy hiểm và những địa bàn xảy ra nhiều loại tội phạm.
Tăng cường giáo dục pháp luật và các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông, kéo giảm tai nạn giao thông. Uỷ ban nhân dân tỉnh, các huyện, thị xã phải có giải pháp hữu hiệu giải quyết cơ bản tình hình khiếu kiện của công dân, kịp thời giải quyết các mâu thuẫn trong dân, hạn chế phát sinh các khiếu kiện mới, ngăn chặn các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp. Xử lý nghiêm các phần tử kích xúi, chủ mưu khiếu kiện trái với pháp luật.
Có biện pháp cụ thể giải quyết nhanh án dân sự còn tồn đọng và thực hiện tốt công tác thi hành án.
Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng dân quân tự vệ. Tiến hành tốt các cuộc diễn tập, thực hiện tốt công tác tuyển quân.
IV. Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên.
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh - khoá VII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 25/6/2004./.