quyÕt ®Þnh Về việc tăng cường công tác thuế nông nghiệp năm 1982 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Theo báo cáo của Sở Lương thực và Sở Tài chính về kết quả huy động lương thực 1982 và
căn cứ tinh thần cuộc hội nghị toàn tỉnh ngày 14 tháng 9 năm 1982, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định một số nội dung và biện pháp cụ thể để huy động lương thực trong 1982 bao gồm thu thuế, nợ thuế, nợ hai chiều và mua đổi theo mức thoã thuận như sau: I. Tổ chức thu đến ngày 16 thnág 9 năm 1982 dứt điểm thuế và nợ thuế năm 1982: A/ Nhiệm vụ và chỉ tiêu: Từ nay đến 30 tháng 12 năm 1982 phải đảm bảo thu cho dứt điểm + 10.654 tấn lúa thuế và nợ thuế + 9.581 tấn lúa nợ đổi hai chiều B/ Từng cấp tổ chức chỉ đạo: 1. Đại diện Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lương thực, Sở Công an tổ chức một Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và cùng với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị tổ chức Ban Chỉ đạo thu thuế, nợ thuế nông nghiệp ở cấp huyện gồm có: a. Cấp tỉnh: + Đồng chí Trần Văn Ngẫu - Trưởng Ban Chỉ đạo sản xuất và huy động lương thực kiêm Trưởng ban; + Giám đốc Sở Tài chính – Phó Ban trực; + Giám đốc Sở Lương thực - Uỷ viên; + Phó Giám đốc Sở Công an - Uỷ viên; b/ Cấp huyện: + Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị (Thường vụ Huyện uỷ) làm Trưởng ban; + Trưởng ban Tài chính – Phó ban trực; + Trưởng Ban Lương thực - Uỷ viên; + Phó Công an huyện - Uỷ viên; + Đề nghị Huyện uỷ bố trí đồng chí Phó Ban Tổ chức làm Uỷ viên. 2. Ban Chỉ đạo thu thuế nông nghiệp trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thi hành toàn bộ công tác thuế nông nghiệp ở đại phương. Tuyến xã: Uỷ ban nhân dân xã trực tiếp thi hành, đề nghị Xã Uỷ huy động các ngành, các tổ chức thực hiện dứt điểm các nhiệm vụ chỉ tiêu ở xã. 3. Ban Chỉ đạo tỉnh có nhiệm vụ đến từng huyện hướng dẫn kế hoạch tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đề ra, giúp Ban chỉ đạo huyện xây dựng kế hoạch chặt chẽ. Hằng tuần Ban Chỉ đạo tỉnh sơ kết và hội ý với đại biểu các huyện, thị tại tỉnh để kịp thời nắm tình hình và chỉ đạo bổ sung. Hàng ngày từ 16 giờ đến 21 giờ, huyện báo cáo bằng điện về cho tỉnh một lần. Huyện
căn cứ theo lịch báo cáo tuần mà tổ chức thông tin nắm tình hình ở các xã. Giúp cho Ban Chỉ đạo tỉnh theo dõi tiến độ huy động và giải quyết các yêu cầu cụ thể, các sở: Tài chính, Lương thực, Chi cục Thống kê cử một nhóm trợ lý thường trực tập hợp tình hình báo cáo cho Ban Chỉ đạo, điểm trực tại Sở Tài chính. II. Vận dụng một số chính sách cần thiết: Sở Lương thực và Sở Nông nghiệp nhận ngay vật tư của 2 Bộ và với khả năng tự tạo của mình, tổ chức cung ứng cho nông dân đầu vụ để thu lúa cuối vụ tạo ra khu vực đầu tư ổn định theo các tỷ giá quy đổi như sau: 1. Phân Urê đổi lấy lúa: a. Đổi chịu theo hợp đồng, đến vụ lấy lúa: Cho tập thể: 1 phân = 3 lúa Cho cá thể: 1 phân = 3,5 lúa b. Đổi lấy liền: Cho tập thể: 1 phân = 2,5 lúa Cho cá thể: 1 phân = 3 lúa 2. Xăng đổi lấy lúa: a. Đổi chịu theo hợp đồng, đến vụ lấy lúa: Cho tập thể: 1 lít = 3,5 kg lúa Cho cá thể: 1 lít = 4 kg lúa b. Đổi lấy liền: Cho tập thể: 1 lít = 3 kg lúa Cho cá thể: 1 lít = 3,5 kg lúa 3. Dầu garon đổi lấy lúa: a. Đổi chịu theo hợp đồng, đến vụ lấy lúa: Cho tập thể: 1 lít = 2,5 kg lúa Cho cá thể: 1 lít = 3 kg lúa b. Đổi lấy liền: Cho tập thể: 1 lít = 2 kg lúa Cho cá thể: 1 lít = 2,5 kg lúa 4. Các mặt hàng khác đổi lấy lúa giá như sau: + Ciment Hà Tiên P.400 giá 300đ/bao + Tấm lợp FIBRO Ciment giá 130đ/tấm + Dầu lửa giá 14đ/lít + Gỗ xẻ 1m3: - (Dầu các loại) Loại I giá: 7000đ/m3 - (Dầu các loại) Loại II giá 9000đ/m3 - (Thau lao, chò chỉ) Loại I giá 9000đ/m3 Loại II giá 11.000đ/m3. III- Nhiệm vụ của từng ngành: 1/ Uỷ ban nhân dân huyện, thị: Tổ chức Ban Chỉ đạo và cùng Huyện Uỷ tổ chức đợt huy động từ nội bộ ra nhân dân, vận động các ngành giáo dục, đấu tranh, kiểm tra tình hình thu mua lương thực nhất là thuế, nợ thuế, nợ hai chiều. Xây dựng quyết tâm và biện pháp đảm bảo thi hành triệt để chủ trương huy động lương thực. 2. Sở Lương thực có trách nhiệm phối hợp với các Uỷ ban nhân dân huyện, xã và ngành nông nghiệp tổ chức vận động nông dân đổi lúa trong vụ hè thu đến hết ngày 30 tháng 12 năm 1982 phải đạt được 10 ngàn tấn lúa. 3. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quy đổi, Tỉnh cho phép Sở Lương thực được dùng vật tư hàng hoá để thường thêm cho nhân dân ở khu vực tập thể và vận dụng cho nhân dân sản xuất cá thể cứ mỗi kg lúa được thưởng thêm hiện vật giá trị bằng 2 đồng (hai). 4. Cho phép Sở Lương thực được bán ra một số vật tư hàng hoá do Sở quản lý và tổ chức mua lúa có thưởng thí điểm ở một số địa phương có nhiều lúa để rút kinh nghiệm và trình báo kết quả vào ngày 10 tháng 10 năm 1982 cho thường trực Uỷ ban từ giá gốc lúa hạt nhỏ là 4đ/kg, lúa hạt to 3,5đ/kg, những hộ đã nạp xong thuế, nợ thuế và hai chiều và nhân dân bán cho Nhà nước mỗi kg lúa được thưởng 2 đồng (hai). IV. Các điều khoản thi hành: 1. Các nội dung của Quyết định này có giá trị kể từ ngày 01 thnág 10 năm 1982, các văn bản trái với nội dung trong Quyết định này sẽ không còn giá trị. 2. Đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo và huy động lương thực tỉnh, Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban Vật giá, Sở Tài chính, Sở Lương thực và Công an chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức sinh hoạt nội dung Quyết định này thông suốt trong toàn ngành và phổ biến cho Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã tổ chức triển khai thực hiện./.