QUYẾT ĐỊNH Về chính sách khuyến khích thực hiện sinh đẻ có kế hoạch ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Sinh đẻ có kế hoạch là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhằm hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số và từng bước cân đối với phát triển kinh tế, nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ cho mọi gia đình. Qua 6 năm (1977-1982) tổ chức vận động sinh đẻ có kế hoạch tỷ lệ phát triển dân số của tỉnh có giảm nhưng chậm và chưa vững chắc. Đến nay, số người thực hiện phương pháp ngừa thai mới đạt 6,14% so với số dân trong tỉnh, trong khi đó tỷ lệ phát triển dân số hàng năm là 2,5%. Toàn tỉnh, mới có xã Bình Khánh (Mỏ Cày) đạt tỷ lệ sinh đẻ dưới 2%, tình hình trên đang gây nhiều khó khăn đến việc cải thiện đời sống cán bộ công nhên viên chức và nhân dân trước hết đối với chị em phụ nữ. Để tiếp tục thi hành Chỉ thị 29-HĐND(BT ngày 12 tháng 8 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm 1981-1985 và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về mục tiêu hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số đến năm 1085 xuống còn 1,9%. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định một số chính sách nhằm khuyến khích thực hiện sinh đẻ có kế hoạch như sau:
Điều 1
Đối với người áp dụng các biện pháp tránh thai, tránh đẻ: 1. Người dặt vòng tránh thai: a. Được khám bệnh ngay tại Trạm Y tế xã và các Phòng kế hoạch hoá gia đình ở các bệnh viện huyện, thị xã. Nếu có bệnh phụ khoa được chữa và cấp thucố không phải tốn tiền. b.
Sau khi đặt vòng được cấp một số thuốc theo quy định, được khám và theo dõi sức khoẻ theo định kỳ. Khi người đó hết tuổi đẻ hoặc mới chỉ đẻ có 1 con, sau 5 năm muốn đẻ thêm sẽ được y tế tháo vòng một cách dễ dàng. c. Được hưởng 20 kilô lúa (tiêu chuẩn) như người đẻ đối với tập đoàn sản xuất hoặc quy lúa tnành tiền đối với hợp tác xã thủ công nghiệp, miễn dân công, nghĩa vụ năm đó. Sau đó được bố trí lao động hợp sức khoẻ trong 15 ngày. Nếu là cán bộ công nhân viên chức đựơc nghỉ 7 ngày, được hưởng nguyên lương và một khoản tiền bồi dưỡng thuốc trị giá 20đ. 2. Người nạo thai: a. Được đến nạo thai tại bất cứ bệnh viện nào trong tỉnh, được tạo mọi điều kiện thuận lợi ngoài ý kiến đảm bảo nhất trí của cha, mẹ hoặc chồng không phải xuất trình bất kỳ một loại giấy tờ gì, chỉ cần báo rõ địa chỉ để tiện việc theo dõi sức khoẻ khi cần thiết. b. Được hưởng ưu tiên các chế độ như người đến bệnh viện khám chữa bệnh, nếu nằm viện, được hưởng chế độ cấp thuốc bồi dưỡng và ăn theo bệnh lý, nếu không nằm viện được cấp đủ thuốc về nhà điều trị (theo quy định của ngành y tế). c. Nếu là cán bộ, công nhân viên chức, được nghỉ 15 ngày hưởng nguyên lương và hưởng một khoản phụ cấp bồi dưỡng là 60đ. Nếu ở trong tập đoàn sản xuất hoặc hợp tác xã thủ công nghiệp thì được miễn dân công nghĩa vụ năm đó và được hưởng tiêu chuẩn 20 kg lúa như người đẻ, được quy thành tiền đối với hợp tác xã thủ công nghiệp. 3. Người thắt ống dẫn tinh hoặc ống dẫn trứng: Được hưởng tiêu chuẩn bồi dưỡng và quyền lợi như người đặt vòng tránh thai.
Điều 2
Chính sách khen thưởng các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt sinh đẻ có kế hoạch:
1. Đối với tập thể là huyện, thị và phường, xã:
a. Xã nào đạt tỷ lệ sinh đẻ dưới 2%, huyện dưới 2,2% so với dân số và hạ tỷ lệ phát triển dân số dưới 1,5% sẽ được tặng bằng khen và thưởng hiện vật.
Đối với xã là 1.000đ00;
Đối với huyện là 2.000đ00;
Những năm sau, nếu giữ vững tỷ lệ hoặc giảm hơn liên tục trong 3 năm liền sẽ được xét khen thưởng với mức cao hơn 2 lần do Hội đồng thi đua đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định.
b. Cơ quan đơn vị nào đạt 3 tiêu chuẩn sau đây:
+ Có tỷ lệ sinh từ 8% trở xuống so với tổng số nữ CBCNV trong cơ quan.
+ Không có người đẻ con thứ 3 trở lên kể cả cán bộ có vợ hoặc chồng ở nông thôn (không tính người đẻ có nhiều con trước đây).
+ Không có người đẻ dầy dưới 4 năm.
Cơ quan dưới 50 người được hưởng 200đ, được bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Cơ quan từ 51 người đến 250 người được thưởng 300đ, được thưởng bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Cơ quan có 251 người trở lên được thưởng 500đ, được bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Nếu những năm sau này vẫn duy trì được các tiêu chuẩn trên thì năm thứ 2 vẫn được khen thưởng như trên, năm 2, năm 3 được thưởng gấp đôi.
2. Đối với cá nhân:
a. Những người còn trong độ tuổi sinh đẻ (nữ dưới 54 tuổi) trừ trường hợp không sinh đẻ do bệnh tật, mới có 1 con đăng ký và thực hiện đúng sau 4 năm chưa đẻ con thứ 2 thì từ năm thứ 5 trở đi thì được thưởng mỗi năm 1 tháng lương cho đến khi nào đẻ con thứ 2.
Nếu có 2 con , con thứ 2 – 5 tuổi chưa đẻ hoặc đăng ký thôi đẻ thì từ năm thứ 6 trở đi được thưởng mỗi năm 2/3 thnág lương (nếu 02 con gái – 1 tháng lương) cho đến khi người mẹ 45 tuổi. Nếu là CBCNV nhà nước thì mỗi năm người vợ hoặc chồng được tính theo lương của người có mức lương cao hơn (hai vợ chồng cùng công tác tại thị xã Bến Tre). Nếu vợ công tác nơi khác chồng ở thị xã Bến Tre thì cơ quan quản lý người chồng tuỳ theo khả năng xét thưởng, không được hưởng tiêu chuẩn như trên.
Nếu là xã viên hợp tác xã thì được hưởng một tiêu chuẩn bồi dưỡng như người đẻ: 20 kg lúa hoặc quy ra tinề đối với hợp tác xã thủ công nghiệp, được miễn dân công năm đó.
Nếu là dân thường được miễn dân công cả 2 vợ chồng, được giấy khen của Uỷ ban nhân dân huyện.
Người đã thực hiện sinh đẻ có kế hoạch 3, 4 năm trước ngày ban hành chính sách này ở trong diện tuổi còn sinh đẻ nếu vẫn tiếp tục đăng ký thực hiện và đạt tiêu chuẩn quy định trên, thì từ ngày khai sinh con trước vẫn được khen thưởng như trên.
b. Người tự nguyện thắt ống dẫn tinh hoặc ống dẫn trứng để thôi đẻ hẳn cũng được hưởng hàng năm như tiêu chuẩn trên (điểm a, mục 2, phần 3).
c. Đối với cán bộ kỹ thuật đặt vòng và đoàn thể làm công tác vận đông:
Nếu một năm người nào đặt được 150 vòng trở lên và đảm bảo kỹ thuật không cho xảy ra tai biến thì được thưởng 100đ/năm.
Nếu 1 năm người nào làm tốt công tác tuyên truyền vận động sinh đẻ có kế hoạch được 100 người trở lên thì được thưởng 200đ/năm.
Điều 3
Những hình thức và biện pháp xử trí đối với cá nhân đơn vị không thực hiện sinh đẻ có kế hoạch:
1. Cán bộ, CNV, xã viên hợp tác xã không thực hiện chính sách sinh đẻ có kế hoạch coi như không nghiêm chỉnh chấp hành chính sách thì không đạt danh hiệu thi đua và xét nâng bậc lương chậm hơn so với CBCNVC cùng niên hạn công tác (cả 2 vợ chồng thì 1 năm trở lên).
2. Người đặt vòng vẫn có thai, cần đi nạo sớm sẽ được hưởng các quyền lợi của người nạo thai. nếu không sẽ hoàn lại toàn bộ các tiêu chuẩn bồi dưỡng khi đặt vòng, không đạt danh hiệu thi đua.
3. Người không có nhiệm vụ và không được phép của ngành y tế mà tháo vòng, phá thai cho người khác sẽ bị xử lý, truy tố trước pháp luật.
4. Đơn vị, cá nhân làm công tác kỹ thuật đặt vòng, nạo thai nếu không hoàn thành kế hoạch được giao, thiếu trách nhiệm để xảy ra tai biến thì tuỳ theo khuyết điểm nặng nhẹ thì thi hành kỷ luật hay bị xử lý theo đề nghị của ngành y tế.
5. Đối với ccác cơ quan của nhà nước và đối với các đơn vị tập thể chỉ tiêu sinh đẻ có kế hoạch được coi là chỉ tiêu pháp lệnh và hoàn thành kế hoạch hàng năm. Nếu cơ quan, đơn vị nào chỉ hoàn thành kế hoạch sản xuất không hoàn thành chỉ tiêu về sinh đẻ có kế hoạch, không được công nhận thi đua toàn diện mà chỉ công nhận hoàn thành kế hoạch sản xuất. Thủ trưởng đơn vị và các đoàn thể nơi đó cũng không được công nhận các danh hiệu thi đua.
Điều 4
Về kinh phí:
a. Chi về đặt vòng, nạo thai, tuyệt sản:
Cán bộ, CNVC chi lở quỹ bảo hiểm xã hội.
Xã viên hợp tác xã chi ở quỹ công ích của hợp tác xã (nếu thiếu thì ngân sách ở huyện chi).
b. Chi về khen thưởng:
Đối với các đơn vị tập thể do ngân sách chi.
Đối với cá nhân:
+ CBNV hành chính sự nghiệp trích quỹ sự nghiệp chi
+ CBCNVC cơ quan xí nghiệp kinh doanh sản xuất trích quỹ phúc lợi chi.
+ Xã viên hợp tác xã, trích quỹ công ích chi (nếu thiếu thì ngân sách huyện chi).
+ Đối với quần chúng không phải là CB, CNVC hoặc xã viên HTX nông nghiệp thì trích ngân sách xã để chi.
Hàng năm các huyện, thị ty ngành được phép lập dự trù kinh phí để chi cho khen thưởng sinh đẻ có kế hoạch.
Điều 5 . Các ông: Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các Ty, cơ quan ngang Ty, đoàn thể, các ông Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thị có trách nhiệm phổ biến và thi hành Quyết định này.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký, trong khi thực hiện có gì phát sinh các nơi cần báo cáo về Uỷ ban nhân dân tỉnh để nghiên cứu, bổ sung chỉ đạo.
Ty Y tế, Ty Tài chính, Ban Thi đua, Ban quản lý HTX nông nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, căn cứ Quyết định này có hướng dẫn cụ thể để cơ sở thực hiện./.