Kế hoạch 5 năm 1986-1990 có ý nghĩa quyết định trong việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ mục tiêu do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 đã đề ra. Trong kế hoạch 5 năm lần này, nhất là từ 1987 trở lại là thời kỳ mở đầu việc thi hành Nghị quyết Đại hội lần thứ 6 của Đảng, thời kỳ tập trung giải quyết những nhiệm vụ, những nhu cầu lức thiết nhằm từng bước ổn định tình hình kinh tế - xã hội tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Hiện nay các cấp uỷ Đảng trong toàn tỉnh đang chuẩn bị nội dung cho Đại hội. Việc xây dựng và tổng hợp có chất lượng kế hoạch (KH) 5 năm lần này sẽ là một đống góp quan trọng làm nên kết quả của Đại hội các cấp. Nhằm mục đích đó, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã khẩn trương tiến hành xây dựng, tổng hợp kế hoạch 5 năm 1986-1990 sao cho vừa đạt yêu cầu về chất lượng và vừa đảm bảo đúng tiến độ quy định. Trong quá trình xây dựng, tổng hợp KH cần lưu ý một số điểm sau đây: I. Nắm vững phương hướng nhiệm vụ về tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch nhà nước năm 1986-1990 Phương hướng và mục tiêu của thời kỳ 1986-1990 là nhanh chóng ổn định về tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định và phát triển sản xuất, ổn định thị trường giá cả, tài chính, tiền tệ, ổn định từng bước đời sống nhân dân lao động, hoàn thành cải tạo XHCN, thiết lập trật tự và kỷ cương XHCN trong quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, lấy kế hoạch hoá làm trung tâm sắp xếp bố trí đúng cơ cấu sản xuất và vốn đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp hoá XHCN. Từ phương hướng và mục tiêu cơ bản nêu trên trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 tỉnh ta sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu: 1. Trên cơ sở quy hoạch để được xác định vị trí lại cơ cấu cây trồng và vật nuôi, triệt để tận dụng đất đai và lao động, lấy thâm canh làm biện pháp chuyển để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong đó sản xuất lương thực, thực phẩm giữ vai trò trọng yếu, cây công nghiệp dừa, míc, thuỷ sản… là mũi nhọn, là nguyên liệu quan trọng của ngành chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Đồng thời với phát triển nông nghiệp, đẩy mạnh phát triển ngư nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Trên cơ sở đó từng bước ổn định đời sống nhân dân, tạo ra và tăng dần tích luỹ để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho XHCN. 2. Huy động tất cả các nguồn vốn có thể huy động được để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nhằm tăng nhanh và phát huy năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, GTVT… Quan tâm đến việc đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động các công trình phục vụ văn hoá giáo dục và phúc lợi của nhân dân. Trong công tác đầu tư xây dựng phải đảm bảo tính toán cân nhắc đến hiệu quả, sắp xếp các công trình theo thứ tự ưu tiên công trình làm nhanh gọn, sớm tạo sản phẩm có hiệu quả thiết thực tập trung dứt điểm để sớm đưa công trình vào hoạt động. 3. Củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN chấn chỉnh và tăng tổ chức biên chế, cơ sở vật chất cho khâu phân phối lưu thông, mở rộng thị trường, có tổ chức, kết hợp chặt chẽ KH với thị trường, hoàn thành cải tạo và tăng cường quản lý thị trường, bình ổn vật giá…Phấn đấu tập trung đại bộ phận sản phẩm xã hội vào tay Nhà nước để có điều kiện phân phối và phân phối lại TNQD 1 cách hợp lý, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh nghị quyết dự thảo 306 của Bộ Chính trị về bảo đảm phát huy quyền chủ động của đơn vị kinh tế cơ sở. Thực hiện hạch toán kinh tế, khuyến khích tăng NSLĐ thúc đẩy sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần khắc phục các mặt cân đối các hiện tượng tiêu cực trong các hoạt động kinh tế xã hội. 4. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về xuất nhập khẩu xác định nguồn hàng xuất khẩu chủ lực, có vị trí ổn định để tập trung đầu tư khai thác, chú trọng các mặt hàng chế biến từ trái dừa, cây mía, các loại nông sản khác có giá trị trước mắt phải ra sức nâng cao hiệu quả những hoạt động chủ yếu của nền kinh tế để góp phần cân đối và xây dựng cơ sở vật chất của tỉnh. Các ngành huyện, thị và cơ sở sản xuất kinh doanh có trách nhiệm đóng góp vào hoạt động này. Bằng kết quả xuất khẩu để nhập khẩu các loại vật tư thiết bị cần thiết và 1 số hàng tiêu dùng thiết yếu để phục vụ cho sản xuất xây dựng, thu mua huy động NSTP và đáp ứng 1 phần nhu cầu đời sống nhân dân. Cùng với hoạt động xuất nhập khẩu, tăng cường hợp tác, liên kết trao đổi kinh tế với các ngành TW, các tỉnh, thành phố và mở rộng kinh tế với bên ngoài để từng bước phát huy thế mạnh của các đặc sản của địa phương, tạo thêm vốn, vật tư hành hoá cho các nhu cầu của tỉnh. 5. Cân đối tích cực giữa các nhiệm vụ sản xuất và nguồn lao động sẳn có để sử dụng có hiệu quả lao động sản xuất xã hội và bảo đảm việc làm cho người lao động. Từng huyện, xã phải xây dựng và chỉ đạo thực hiện có kết quả KH phối phân bổ và sử dụng hợp lý lao động cho trồng trọt, chăn nuôi, phát triển ngành nghề. Mặt khác phải phấn đấu giảm nhanh tốc độ tăng dân số bằng cách thực hiện tốt sinh đẻ có kế hoạch. 6. Đề cao việc ứng dụng tiến bộ KHKT vào các ngành sản xuất, các hoạt động kinh tế nhằm sử dụng tốt và phát huy năng lực sản xuất, nâng cao NSLĐ, chất lượng sản phẩm. 7. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để nâng cao năng lực hoạt động ngành GTVT, bưu điện để thực hiện cho được những nhiệm vụ chủ yếu của KH. Trong đó đặc biệt tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kho tàng phục vụ chế biến, bảo quản, khai thác tốt giao thông vận tải thuỷ lưu thông hàng hoá, 8. Tiếp tục phát triển văn hoá, giáo dục đào tạo y tế phúc lợi xã hội, tập trung mạnh vào vùng
căn cứ kháng chiến cũ, các xã anh hùng, vùng xã thị trấn, thị xã, các thị tứ, khu đông dân cư…Vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, sinh đẻ có KH…Nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo theo quy hao5ch kế hoạch, phát triển kinh tế của tỉnh trước mắt và lâu dài và thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu cán bộ công nhân cho các ngành sản xuất, phục vụ sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý KHKT và quản lý dịch vụ. 9. Tổ chức tốt việc phục vụ đời sống CB-CNV trong khu vuệc Nhà nước, cán bộ cơ sở, các lực lượng vũ trang bằng việc bảo đảm cung ứng đầy đủ kịp thời với chất lượng tốt các mặt hàng quy định, cung ứng kịp thời 1 số mặt hàng thiết yếu cho nhân dân. Đầu tư xây dựng và giúp vốn để từng bước giải quyết nhà ở cho CB-CNV; hỗ trợ con giống và TAGS đã khuyến khích gia tăng sản xuất, cải thiện đời sống. Quan tâm chăm sóc các đồng chí thương bệnh binh hưu trí mất sức, các gia đình có công với cách mạng. 10. Thực hiện tốt công tác quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, chăm lo xây dựng, lực lượng vũ trang và công an nhân dân vững mạnh, đề cao cảnh giác sẵn sàng dập tan mọi âm mưu phá hoại của địch để bảo đảm an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế và cuộc sống lao động bình thường của nhân dân, kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế. Củng cố và tăng cường mối quan hệ bền chặt về mọi mặt với tỉnh Kendal. Các nhiệm vụ trọng yếu nêu trên rất nặng nề đòi hỏi phải có quyết tâm lớn có biện pháp chặt chẽ và sự chỉ đạo hết sức cụ thể mới hoàn thành được. Các nhiệm vụ đó lại được đặt ra trong hoàn cảnh nền kinh tế của tỉnh có nảy sinh, phát triển nhiều nhân tố mới, song vẫn còn có những khó khăn, mất cân đối chưa khắc phục được. Do vậy cho nên trong suốt quá trình tổ chức xây dựng KH cũng như khi triển khai thực hiện phải quán triệt cho được các tư tưởng chỉ đạo sau đây: 1. Nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng sẵn có về lao động, đất đai và cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện có trong từng ngành từng huyện, thị và đơn vị sản xuất, kinh doanh. Đồng thời phải thực hiện triệt để việc tiết kiệm vật tư tiền vốn tiêu dùng cho sản xuất, xây dựng. 2. Các chỉ tiêu kế hoạch phải thể hiện tính tích cực với tinh thần phấn đấu cao nhất, nhưng mặt khác cũng phải được tính toán chặt chẽ, sát thực tế, cân đối vững chắc hiện thực…Bảo đảm các hoạt động nêu ra trong kỳ KH đem lại được hiệu quả thiết thực, đáng tin cậy, kiên quyết không ghi vào kế hoạch những việc làm, những chỉ tiêu nhiệm vụ
xét thấy không đủ điều kiện để triển khai thực hiện, những chỉ tiêu nhiệm vụ, những công trình để được ghi vào KH thì phải tạo mọi điều kiện để hoàn thành dứt điểm trong hạn định. 3. Việc xây dựng và tổng hợp KH 5 năm 1986-1990 phải được tiến hành từ cơ sở về huyện lên, bảo đảm thu hút cho được đông đảo quần chúng nhân dân, cán bộ KHKT, cán bộ quản lý tham gia nhằm xây dựng cho được 1 KH thể hiện ý chí, lòng quyết tâm và chương trình hành động cách mạng của quần chúng lao động. Yêu cầu đặt ra cho toàn bộ công tác KHH phát triển kinh tế trong thời kỳ trước mắt là phải dựa vào sức mình là chính, phải biết khai thác tận dụng những điều kiện sẵn có của ngành mình, địa phương mình, đơn vị mình, không trông chờ ỷ lại bên trên. Tất cả các ngành các cấp phải quán triệt sâu sắc thực hiện cho bằng được khẩu hiệu hành động là: với phương tiện vật tư do Nhà nước cung ứng bằng hoặc ít hơn phải sản xuất tốt hợn, làm ra nhiều của cải vật chất hơn”. Phải nhanh chóng khắc phục cơ chế quản lý hành chính bao cấp, chuyển mạnh sang cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh XHCN, tăng cường và củng cố chế độ trách nhiệm, pháp luật và kỷ luật trong quản lý hành chính kinh tế cũng như trong sản xuất kinh doanh. Kiên quyết chóng mọi khuynh hướng cục bộ, bản vụ, địa phương chủ nghĩa, tự do tuỳ tiện, vi phạm đường lối của Đảng chính sách chế độ pháp luật và chỉ tiêu KH của Nhà nước. II. Về tổ chức xây dựng và tổng hợp kế hoạch: Trong những năm trước mắt hoàn cảnh kinh tế của cả nước vẫn còn nhiều khó khăn, tiền vốn, vật tư, hành hoá…chưa đáp ứng yêu cầu các mặt cân đối. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho toàn bộ nội dung KH là phải phấn đấu đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất, xây dựng trong phân phối lưu thông với điều kiện vật tư tiền vốn có bị hạn chế. các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở phải phát huy tính tích cực chủ động, khai thác các tiềm năng sẵn có, hợp tác chặt chẽ với các ngành, các địa phương khác, đẩy mạnh xuất khẩu và nhập khẩu, nâng cao khả năng tự cân đối về các mặt để phát triển sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao nhất mà không đòi hỏi thêm vật tư tiền vốn. Tỉnh sẽ giao cho các sở ngành, huyện thị các chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu. Các chỉ tiêu nghĩa vụ sẽ được cân đối với vật tư tiền vốn và những loại vật tư tiền vốn ghi trong chỉ tiêu KH cũng chỉ được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ được giao. Những việc làm ngoài chỉ tiêu KH pháp lệnh, các ty, ngành huyện thị, các cơ sở phải tự cân đối lấy. Những chỉ tiêu khác các ty ngành, huyện thị, các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ nêu trong Chỉ thị này mà đề ra KH phấn đấu cụ thể. Mặc dù vậy, khi tổng hợp và bảo vệ KH với tỉnh, các sở ngành, huyện thị vẫn phải trình bày đầy đủ những chỉ tiêu hoạt động thuộc chức năng quản lý, thực hiện. - Các chỉ tiêu KH phải được tính toán vững chắc. Phải căn cứ vào số liệu điều tra, số liệu thống kê, tiềm năng đất đai và khả năng vật tư tiền vốn (kể cả khả năng xuất nhập và liên doanh liên kết kinh tế), để thực hiện cân đối đồng bộ giữa các chỉ tiêu với nhau. Đặc biệt phải coi trọng trong việc áp dụng những thành tựu KH và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, gắn kế hoạch phát triển sản xuất, KH phát triển kinh tế - xã hội với KH KHKT nhằm sử dụng tiết kiệm năng lượng, vật tư, nguyên liệu, tiền vốn,… Cùng với việc tính toán các chỉ tiêu KH, phải đề ra các biện pháp thực hiện. Các vấn đề này phải được trình bày rõ khi thuyết minh nhiệm vụ KH cũng như lúc bảo vệ KH. - Trong khi sản xuất có khó khăn, cung cầu mất cân đối phải đặc biệt quan tâm đến công tác, phân phối lưu thông. Kế hoạch phải được làm rõ, cụ thể vấn đề này phải bám sát vào sự chỉ đạo của UBND tỉnh để thực hiện. Đặc biệt cần kết hợp tốt KHH với thị trường, phải làm tốt KHH tài chính, lưu thông tiền tệ. Các sở ngành chức năng, ngành tài chính, ngân hàng, phải có biện pháp hướng dẫn, giám sát, kiểm tra các đơn vị cơ sở thực hiện đúng các chế độ hạch toán kinh tế, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, ngăn chặn các hiện tượng vi phạm kỹ luật về giao nộp sản phẩm, giao nộp tiền mặt, tuỳ tiện trao đổi vật tư, sản phẩm cho nhau. - Thực tế điều hành KH trong thời gian qua cho thấy rằng trong quá trình thực hiện KH có rất nhiều việc đòi hỏi giải quyết là không có trong KH. Nguyên nhân là một số ngành đơn vị không xây dựng kế hoạch. Việc làm này có ảnh hưởng đến tính cân đối, đến điều hành KH, chưa làm KH trở thành đòn bẩy trong thúc đẩy sản xuất và là công cụ để quản lý nền kinh tế. Từ nay về sau UBND tỉnh yêu cầu các sở ngành tỉnh, UBND huyện, thị xã khi xây dựng KH phải xem xét cân nhắc toàn bộ những công việc có liên quan đến hoạt động của ngành, đơn vị, tính toán cân đối hợp lý để đưa vào KH nhất là KH đầu tư XDCB (kể cả các công trình do Nhà nước và nhân dân cùng làm). KH nhu cầu vật tư, tiền vốn, liên kết trao đổi kinh tế xuất nhập khẩu. Chỉ có những vấn đề đã được đưa vào KH (do cấp có thẩm quyền phê duyệt) mới có tác dụng thực hiện. Cho phép cơ quan KH các cấp được quyền từ chối giải quyết những yêu cầu không có trong KH được giao (trường hợp đột xuất UBND tỉnh có chỉ đạo riêng). - Vừa qua HĐBT đã có Quyết định số 76/HĐBT quy định tạm thời về quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực KHH. Do vậy, yêu cầu từ KH 1987 trở đi các ngành chức năng khi xây dựng cũng được giao KH chỉ đạo điều hành thực hiện KH phải tuân thủ đúng nội dung Nghị quyết này. Các đơn vị kinh tế cũng không được thực hiện sai lệch những điều đã định, vừa đảm bảo tính dân chủ và tập trung trong quản lý Nhà nước. - Uỷ ban kế hoạch tỉnh, các sở ngành chức năng có trách nhiệm chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng, tổng hợp KH từ cơ sở và huyện nhất là những cơ sở, những huyện đang khai thác phát huy các thế mạnh của tỉnh như luá, dừa, mía, cá tôm, những đơn vị cơ sở có trọng trách trong công tác xuất nhập khẩu, phân phối lưu thông. Phải có biện pháp giúp các đơn vị chấn chỉnh và cải tiến công tác tổ chức quản lý, tổ chức lại sản xuất để khai thác tốt mọi tiềm năng hiện có. Phải thông qua việc chỉ đạo, xây dựng và tổng hợp KH mà hướng dẫn huyện tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện sao cho phù hợp với những điều kiện tự nhiên kinh tế của mỗi huyện. Trong chỉ đạo cần kết hợp chỉ đạo toàn diện với chỉ đạo điểm. Ngày trong chỉ đạo toàn diện cũng phải biết tập trung vào những vấn đề then chốt những đặc trung kinh tế của mỗi ngành, mỗi điạ phương nhằm khai thác tốt nhất, phát huy cao nhất hiệu quả kinh tế, hiệu suất hoạt động.
Căn cứ vào
Điều 7 quy chế tạm thời về quyền tự chủ của cac đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực KHH và đặc điểm kinh tế của điạ phương. UBND tỉnh chọn các đơn vị sau đây để giao KH trực tiếp:
XN Liên hiệp dược
Công trình bệnh viện 500 giường
XN đông lạnh 22
XN cơ khí Đồng Khởi
XN ép dầu 1/5
Liên hiệp xí nghiệp chăn nuôi - chế biến thức ăn gia súc
Công ty liên hiệp xuất nhập khẩu tỉnh
Các huyện, thị cũng cần chọn 1 số đơn vị trọng điểm để giao, chỉ đạo điều hành KH trực tiếp.
Để đảm bảo yêu cầu và nội dung xây dựng KH cần triển khai 1 số công việc sau đây:
Hệ thống hoá số liệu cơ bản thời kỳ 1981-1985 của toàn tỉnh, từng huyện, ngành và cơ sở làm rõ tình hình sử dụng ruộng đất, lao động, tình hình sử dụng công suất thiết bị máy móc.
Đánh giá tình hình thực hiện KH 5 năm 1981-1985 và thực trạng kinh tế xã hội hiện nay, chú trọng đanh giá tình hình thực hiện KH 5 năm, làm rõ chỗ mạnh, chỗ yếu phân tích sâu sắc nguyên nhân rút ra những bài học kinh nghiệm trên cơ sở đó đề ra được những biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu lực kế hoạch.
UBND tỉnh phối hợp với Ủy ban vật giá, Cục thống kê ban hành hệ thống tính toán KH áp dụng cho thời kỳ 1986-1990. Riêng giá cố định vẫn áp dụng bảng giá cố định do TCTK ban hành năm 1982.
UBKH cần tham khảo ý kiến các ngành liên quan và Ban kinh tế Đảng TU sớm tính toán trình UBND tỉnh ban hành tập định mức tính toán KH (chủ yếu là KH tiêu hao vật tư, nguyên liệu) theo hướng tiết kiệm 5-10% so với mức hiện hành. Ban hành hệ thống biểu mẫu lập báo cáo KH 1986-1990.
IV. Về tiến độ xây dựng kế hoạch:
Để bảo đảm phục vụ kịp thời dự kiến số liệu, tình hình phát triển KT - XH 1986-1990 cho Đại hội Đảng các cấp, đáp ứng đúng tiến độ do TW chỉ định. UBND tỉnh yêu cầu các sở ngành tỉnh, UBDN các huyện, thị xã khần trương xây dựng và tổng hợp KH theo tiến độ quy định dưới đây:
Đầu tháng 8 UBKH tỉnh hướng dẫn các ngành, huyện, thị lập KH.
Trong tháng 8 các sở ngành tỉnh, UBND các huyện thị xã, các đơn vị kinh tế cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch và báo cáo dự án kế hoạch của mình lên Uỷ ban kế hoạch tỉnh.
Chậm nhất đến ngày 5/9/1986 UBKH tỉnh phải tổng hợp hoàn chỉnh KH để trình TT.UBND tỉnh thông qua, sau đó báo cáo TV và đi bảo vệ với TW và bổ sung vào báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh.
Giao cho UBKH tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể nội dung, biện pháp xây dựng, tổng hợp KH.
UBND tỉnh yêu cầu các sở ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã phấn đấu tạo mọi điều kiện khắc phục khó khăn, xây dựng có chất lượng kế hoạch 5 năm lần này để thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp trong thời gian tới./.