THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng vốn KHCB tại các doanh nghiệp Nhà nước Bộ Tài chính đã ban hành các chế độ hướng dẫn và sử dụng vốn KHCB tại các Doanh nghiệp Nhà nướ: Quyết định số 507/TC-ĐTXD ngày 27-7-1986 của Bộ Tài chính quy định chế độ quản lý khấu hao tài sản cố định và tập định mức tỷ lệ khấu hao tài sản cố định (sắp tới có bổ sung và sửa đổi tỉ lệ khấu hao TSCĐ). Thông tư số 33/TC-CN ngày 1-9-1989 hướng dẫn sửa đổi chế độ nộp KHCB của các tổ chức kinh tế và xí nghiệp quốc doanh vào Ngân sách Nhà nước theo Quyết định số 93/HĐBT ngày 24 - 7 - 1989 của Hội đồng Bộ trưởng. Thông tư số 33/TC-CN ngày 31-7-1990 quy định chế độ khấu hao tài sản cố định. Thông tư số 34/TC-CN ngày 31-7-1990 hướng dẫn việc chuyển giao, cho thuê, nhượng bán, thanh lý tài sản cố định. Thông tư số 31/TC-CN ngày 27/5/1991 và Thông tư số 82/TC-CN ngày 31-12-1991 hướng dẫn chế độ bảo toàn và phát triển vốn. Nay, để đảm bảo áp dụng chế độ thống nhất và đáp ứng những yêu cầu mới về mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm sửa đổi và bổ sung chế độ trích lập và sử dụng vốn KHCB như sau: I. TRÍCH LẬP VỐN KHCB 1.
Căn cứ để tính mức trích KHCB của các doanh nghiệp là: Nguyên giá TSCĐ phải được tính đúng, tính đủ theo mức bảo toàn vốn hàng năm đã được duyệt. Tỷ lệ KHCB tính theo quy định của Nhà nước (theo Quyết định 507 TC/ĐTXD 22-7-1986 của Bộ Tài chính) và các văn bản, hướng dẫn sửa đổi bổ sung tỉ lệ KHCB của Bộ Tài chính. 2. Các doanh nghiệp Nhà nước do có khó khăn trong kinh doanh nên kết quả sản xuất kinh doanh còn bị lỗ nhưng không thuộc diện phải giải thể thì lập báo cáo giải trình với cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính cùng cấp (Bộ Tài chính đối với XNQD TW và Sở Tài chính đối với XNQD địa phương) về các nguyên nhân bị lỗ, các biện pháp khắc phục. Cơ quan tài chính quản lý doanh nghiệp Nhà nước xem
xét và quyết định việc giảm mức KHCB theo công suất huy động để giảm lỗ trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp và ý kiến của cơ quan chủ quản cấp trên. Nguyên tắc xét giảm mức KHCB là: Không được xét giảm mức KHCB trong trường hợp doanh nghiệp chi tiền lương bình quân cho công nhân viên cao hơn định mức đơn giá được duyệt. KHCB chỉ được giảm khi có lỗ phát sinh trong năm (do các nguyên nhân khách quan được Nhà nước chấp nhận). Mức tối đa được giảm KHCB là 50% so với mức trích bình thường theo chế độ. 3. Trường hợp ngược lại, các doanh nghiệp có vay vốn ngân hàng hoặc vay từ các nguồn khác để đầu tư mua sắm TSCĐ bao gồm cả trường hợp vay mua và thuê mua TSCĐ mà thời gian khấu hao TSCĐ dài hơn thời gian trả nợ thì doanh nghiệp được phép tăng mức KHCB để tạo nguồn trả nợ. Trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính đối với xí nghiệp Trung ương và Sở Tài chính đối với xí nghiệp địa phương) sẽ xem xét và quyết định cụ thể về mức tăng KHCB.
Sau khi có ý kiến, của cơ quan chủ quản cấp trên. Nguyên tắc xét tăng mức khấu hao là: Thời gian trả nợ vay phải nhanh hơn thời gian khấu hao TSCĐ theo qui định. Khấu hao chỉ được phép tăng với mức đủ để đảm bảo sản xuất không bị lỗ và không vượt quá thời gian trả nợ vay. Chi khấu hao nhanh đối với những TSCĐ đi vay. TSCĐ thuộc diện được khấu hao nhanh nếu đã khấu hao hết nhưng vẫn còn tiếp tục sử dụng thì phải xác định lại giá trị còn lại và tiếp tục khấu hao bình thường trong giá thành sản phẩm.
Phần giá trị còn lại được đánh giá lại đó phải được chia thành nguồn vốn NSNN và vốn tự bổ sung tương ứng với tỷ lệ phân phối lợi nhuận (tỉ lệ nộp thuế lợi tức) của doanh nghiệp và thực hiện quản lý như các quy định hiện hành.
Phần giá trị còn lại và nguồn vốn KHCB này được coi như nguồn vốn tự bổ sung để dùng vào việc taí đầu tư TSCĐ của doanh nghiệp, kể cả trường hợp TSCĐ trước đây được đầu tư bằng nguồn NSNN (trừ trường hợp TSCĐ khấu hao hết do giá TSCĐ tính thấp hoặc do trước đây Nhà nước quy định tỷ giá ngoại tệ thấp).
Phần KHCB còn lại của TSCĐ thuộc nguồn ngân sách (50%) phải nộp vào 1 tài khoản riêng tại kho bạc Nhà nước và chỉ được dùng để tái đầu tư TSCĐ theo kế hoạch đầu tư XDCB được duyệt hàng năm của Nhà nước.
Phần chênh lệch còn lại doanh nghiệp phải nộp kịp thời vào NSNN hoặc được ngân sách cấp tiếp vốn đầu tư theo đúng trình tự qui định.