QUYẾT ĐỊNH V/v Phê duyệt Đề án "Giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2006 - 2010 " ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ số 26/2001/QH10 ngày 12/7/2001;
Căn cứ Luật Giao thông đường thuỷ nội địa số 23/2004/QH11 ngày 01/01/2005;
Căn cứ Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐND ngày 20/7/2006 của HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khóa IV - kỳ họp thứ 6 về các Đề án, Tờ trình của UBND tỉnh;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tại Tờ trình số 47/TTr-ATGT ngày 21/6/2006,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt Đề án "Giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2006 - 2010" kèm theo Quyết định này.
Điều 2
Ủy quyền cho ông Giám đốc Sở Giao thông Vận tải, Phó Ban Thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh làm chủ Đề án, triển khai chương trình hành động phối hợp với Công an tỉnh, các sở, ban, ngành chức năng để triển khai, đôn đốc, theo dõi, tổ chức sơ kết, tổng kết, tổng hợp báo cáo kịp thời về UBND tỉnh hàng Quý vào ngày 20 của tháng cuối Quý đó.
Điều 3
Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm bố trí nguồn ngân sách tỉnh để triển khai Đề án.
Sở Tài chính chịu trách nhiệm cấp phát kinh phí cho Ban An toàn giao thông tỉnh theo kế hoạch của Đề án.
Điều 4
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 5
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giao thông Vận tải; Giám đốc Công an tỉnh; Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh; Ban An toàn giao thông tỉnh; Thủ trưởng các đơn vị sở, ban, ngành, đoàn thể và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Trần Minh Sanh
ĐỀ ÁN
GIẢM THIỂU TAI NẠN GIAO THÔNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010.
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2820/2006/QĐ-UBND ngày 20 tháng 9
năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN GIAI ĐOẠN 2006 - 2010.
1. Đánh giá chung:
Trong những năm qua, nhất là từ năm 2001 sau khi Luật Giao thông đường bộ được ban hành và Nghị quyết 13/2002/NQ-CP của Chính phủ về các biện pháp kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn giao thông. Các Nghị định Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải và các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo trật tự ATGT đường bộ, đô thị và đường thuỷ nội địa. Đặc biệt từ khi thực hiện Đề án: “Giảm thiểu tai nạn giao thông giai đoạn 2002 – 2005” thì tình hình trật tự ATGT trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có chuyển biến tích cực, trật tự kỷ cương trong hoạt động giao thông được tôn trọng hơn, hiệu lực quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông được tăng cường. Ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ công trình giao thông và tính tự giác chấp hành luật giao thông của đại bộ phận nhân dân được nâng cao.
Song, những kết quả đạt được chỉ là bước đầu, tai nạn giao thông tuy có giảm theo từng năm nhưng chưa vững chắc, chỉ cần lơ là trong quản lý, trong tuần tra kiểm soát tức thì tai nạn giao thông sẽ tăng. Tai nạn giao thông, nhất là giao thông đường bộ đang là vấn đề bức xúc của xã hội, gây thiệt hại trực tiếp đến tính mạng, tài sản của con người, gia đình và xã hội. Một trong những mục tiêu lớn của công tác đảm bảo trật tự ATGT là kiềm chế, đẩy lùi tai nạn giao thông (TNGT). Với tình hình thực tế như hiện nay và những năm tiếp theo, lượng phương tiện cá nhân như xe môtô, ôtô phát triển mạnh thì nguy cơ gia tăng TNGT trong những năm tới là hiện thực. Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng, phân tích rõ nguyên nhân, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp và thực hiện một cách đồng bộ, hữu hiệu để kìm chế và đẩy lùi tai nạn giao thông là một vấn đề mang tính xã hội và nhân đạo.
2. Kết qủa thực hiện đề án giai đoạn 2002 - 2005:
Từ năm 2000 đến năm 2005 toàn quốc nói chung và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể trong lĩnh vực giao thông - vận tải, kéo theo tình hình trật tự an toàn giao thông càng phức tạp. Khi đời sống con người
tăng lên thì nhu cầu đi lại cũng tăng theo và việc Hội đồng nhân dân tỉnh khoá III đặt ra mục tiêu xây dựng đề án giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Đề án giảm thiểu tai nạn giao thông giai đoạn 2002 - 2005 đã thu được những kết qủa cụ thể như:
1/ Đã phát huy được bộ máy quản lý nhà nước tham gia bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Các sở, ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh đồng loạt vào cuộc, cùng thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, được dư luận xã hội đồng tình, các cơ quan thông tin, tuyên truyền báo chí đồng tâm ủng hộ.
2/ Ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông đã được nâng cao, các lỗi thường vi phạm như: vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm, đường ngược chiều, lấn tuyến, lạng lách, đánh võng trên đường giảm. Đặc biệt không xẩy ra hiện tượng đua xe trái phép.
3/ Số người tham gia giao thông bằng xe môtô, xe gắn máy không có giấy phép lái xe giảm. Hàng năm ngành giao thông - vận tải đào tạo và cấp mới được hơn 35.000 giấy phép lái xe các loại. Hiện nay số người được cấp giấy phép lái xe trên địa bàn tỉnh là: 271.095 người. Như vậy trung bình mỗi chủ phương tiện đều có một giấy phép lái xe.
4/ Hệ thống kỹ thuật giao thông đường bộ tương đối hoàn chỉnh tăng thêm độ an toàn cho người tham gia giao thông. Giao thông đường thủy nội địa được cải thiện một bước, luồng lạch thông thoáng, phương tiện lưu thông an toàn, số thuyền viên được đào tạo qua trường ngày một tăng.
5/ Lực lượng thi hành pháp luật đã kiên quyết xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, tình hình trật tự kỷ cương trong giao thông trên địa bàn tỉnh đã chuyển biến rõ rệt và dần đi vào nề nếp.
6/ Các địa phương, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội đã đồng loạt vào cuộc tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc thiết lập trật tự ATGT.
7/ Tai nạn giao thông đã được kiềm chế và có những chuyển biến tích cực mặc dù phương tiện giao thông cá nhân những năm vừa qua tăng đột biến.
3. Phân tích nguyên nhân gây tai nạn giao thông.
Nguyên nhân gây tai nạn giao thông đường bộ có rất nhiều nguyên nhân, tình huống xẩy ra. Nhưng chủ yếu gồm các nguyên nhân sau:
a/ Nguyên nhân do con người:
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông chưa cao là nguyên nhân trực tiếp, hàng đầu của các vụ tai nạn giao thông. Thống kê nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy:
Lỗi chạy quá tốc độ chiếm 30%.
Lái xe trong tình trạng say rượu bia, ma tuý : 25%.
Tránh, vượt sai quy định : 24%.
Các lỗi khác : 21%.
+ Đối tượng gây ra tai nạn giao thông nhiều nhất là người đi xe môtô, xe máy chiếm tỷ lệ từ 77,6% đến 81,36%.
+ Lứa tuổi gây tai nạn nhiều nhất là từ 18 tuổi đến 30 tuổi chiếm 61,18%.
Thông thường phần lớn tai nạn giao thông đường bộ xảy ra do lỗi vô ý, đánh giá phán đoán không đúng về tình hình đường sá và các yếu tố giao thông khác ở một số dạng chủ yếu sau:
+ Việc tính toán không đúng mức của người điều khiển phương tiện trong việc lựa chọn tốc độ, chọn thời gian và địa điểm khi hành động như rẽ, ngoặt xe.
+ Việc phán đoán và quyết định lựa chọn không đúng về thời gian và thời điểm cho xe vượt và khi vượt không nhìn thấy xe ngược chiều.
+ Việc đánh giá tình hình đường và các yếu tố giao thông khác không kịp thời nên áp dụng chậm các biện pháp xử lý khi xuất hiện các tình huống nguy hiểm.
Việc vi phạm hành lang ATGT, lấn chiếm lòng lề đường để làm nơi kinh doanh, buôn bán, ngang nhiên họp chợ trên đường cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn.
b/ Nguyên nhân về đường:
Hệ thống đường bộ trên địa bàn Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhiều năm được tỉnh đầu tư, nâng cấp, mở rộng nên cơ sở hạ tầng đã được cải thiện, cho phép tốc độ của phương tiện nhanh hơn. Song, vẫn còn một số bất cập, chưa đáp ứng với sự gia tăng của phương tiện cơ giới đường bộ cũng là nguyên nhân góp phần gây tai nạn giao thông như:
Chưa có hệ thống đường gom cho khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư vì thế trên các tuyến đường có quá nhiều điểm giao cắt. Đó là một trong những điểm thường xẩy ra tai nạn.
Tại các đoạn cong của đường thường bị che khuất tầm nhìn cũng là một nguyên nhân gây tai nạn.
c/ Nguyên nhân do phương tiện:
Do cơ chế thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhu cầu đi lại của nhân dân ngày càng tăng cao nên phương tiện tham gia giao thông tăng, đa dạng, nhiều chủng loại xe cơ giới nên một số phương tiện quá thời hạn sử dụng không đảm bảo kỹ thật an toàn giao thông. Đó cũng là nguyên nhân gây tai nạn giao thông.
Trong các nguyên nhân gây ra TNGT phải kể đến sự gia tăng của phương tiện cơ giới đường bộ (bao gồm xe ôtô, môtô và xe máy), tốc độ đô thị hoá dẫn đến mật độ tham gia giao thông ngày càng tăng nên TNGT ngày càng tăng theo.
d/ Nguyên nhân do công tác quản lý nhà nước:
Trong công tác quản lý nhà nước về trật tự ATGT còn có những mặt yếu chưa làm hết trách nhiệm, các cấp chính quyền triển khai công tác không thường xuyên liên tục, có nhiều nơi chưa coi trọng công tác trật tự ATGT, phòng ngừa tai nạn giao thông.
Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật chưa đi vào chiều sâu, khu vực nông thôn, miền núi chưa được chú trọng. Bên cạnh những phản ánh, công tác khen thưởng, khuyến khích cho người dân có công trong công tác giữ gìn trật tự ATGT chưa có.
Hoạt động của Ban ATGT trong các huyện, thị xã, thành phố và vai trò của chính quyền phường, xã còn hạn chế. Trật tự ATGT đô thị tuy đã thực hiện nhiều đợt cao điểm nhưng tình hình vẫn chưa chuyển biến nhiều. Tình trạng lấn chiếm lòng đường hè phố để kinh doanh, làm nơi trông giữ xe, buôn bán họp chợ vẫn xảy ra làm tăng thêm tình trạng ách tắc giao thông và tai nạn giao thông trên đường phố.
Bảng thống kê tai nạn giao thông giai đoạn 2002 - 2005:
NĂM
(1)
Số phương tiện
(2)
Pt
Số vụ tai nạn
(3)
Vụ
Tổng số
người chết
(4)
Người
Số người bị thương
(5)
Người
Thiệt hại tài sản
(6)
Tr.Đ
TB số người chết trên
10.000 PT
(7)
Tỷ lệ TB số người chết so với năm trước
(8)
2002
181.082
285
302
235
517
17
+5,2 %
2003
206.875
264
292
187
211
14
3,3 %
2004
232.307
276
302
199
470
13
+3,3 %
2005
264.468
215
240
169
210
9
20,5 %
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc xây dựng Đề án “Giảm thiểu tai nạn giao thông giai đoạn 2006 - 2010” là việc làm cần thiết để đảm bảo tính mạng, tài sản của nhân dân, mang tính xã hội, nhân đạo một cách thiết thực. Đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp, các ngành, các đoàn thể trong tỉnh, từ đó đặt ra các giải pháp thực hiện đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TAI NẠN GIAO THÔNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
A. CÁC DỰ BÁO.
1. Dự báo nhu cầu đi lại trong tỉnh:
Không thể thống kê chính xác được tất cả số lần đi lại của dân cư trong vùng qui hoạch, thông thường dùng phương pháp phỏng định số lần đi lại trong năm của các đối tượng dân cư trong vùng theo đặc điểm nghề nghiệp, theo chế độ làm việc, học hành, giải trí, vv... có thể chia thành các nhóm đối tượng để xác định cho dễ dàng.
Nhu cầu đi lại của một người lao động trong năm được phỏng định:
Đi làm 2 lần/ngày x 285 ngày/năm = 570 lần/năm.
Đi lại trong giờ làm việc 5% x 570 lần/năm = 29 lần/năm.
Đi về nhà nghỉ trưa 10% x 570 lần/năm = 57 lần/năm.
Đi lại trong các ngày nghỉ 2 lần/ngày x 80 ngày/năm = 160 lần/năm.
+ Đối tượng học sinh:
Đi học 4 lần/ngày x 230 ngày/năm = 920 lần/năm.
Đi lại trong các ngày nghỉ 2 lần/ngày x 135 ngày/năm = 270 lần/năm.
+ Các đối tượng khác: (người già, nội trợ, trẻ em chưa đến trường, người chờ việc,...) bình quân 0,5 lần/ngày x 360 ngày/năm = 180 lần/năm.
Dự báo nhu cầu đi lại trong tỉnh đến năm 2010:
Số lần đi lại bình quân là : 636.782.850 lần/năm.
Trong đó: Liên tỉnh : 12.735.650 lần/năm
Nội tỉnh : 624.047.200. lần/năm.
2. Dự báo đi lại của khách vãng lai:
Ngoài đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong tỉnh, còn đón nhận một khối lượng khách các tỉnh khác trong nước và quốc tế đến để giao dịch liên doanh, du lịch, trao đổi, thăm hỏi, v.v…
+ Theo định hướng kinh tế của tỉnh thì ngành kinh doanh dịch vụ sẽ được chú trọng và phát triển mạnh. Cùng với sự phát triển của địa bàn kinh tế trọng điểm phía nam. Dự kiến đến năm 2010 có thể sẽ có khoảng gần 10 triệu lượt khách du lịch/năm đến thăm quan, du lịch, nghỉ ngơi, hội họp trên các vùng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ước tính mỗi lần vãng lai khách đi lại 6 lần (2 lần đi về, 4 lần tham quan tại chỗ cho 2 ngày).
Dự báo nhu cầu đi lại vãng lai đến năm 2010 là : 42.000.000 lần/năm
Trong đó: Liên tỉnh : 14.000.000 lần/năm
Nội tỉnh : 28.000.000 lần/năm.
3. Dự báo gia tăng phương tiện và tai nạn hàng năm:
Với xu hướng hội nhập của đất nước, trong những năm tới dự báo phương tiện cá nhân bằng ôtô sẽ tăng mạnh và xe môtô vẫn tiếp tục tăng nhưng không gây đột biến. Với ôtô cá nhân phát triển thì tai nạn giao thông nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng sẽ diễn biến phức tạp.
Lấy số liệu phương tiện của năm 2005 - 2004 = 32.161 PT:
Lấy số liệu tai nạn của năm 2005 thì:
1.230 phương tiện gây ra 01 vụ tai nạn.
1.101 phương tiện làm chết 01 người.
1.564 phương tiện làm bị thương 01 người.
Từ đó ta có bảng dự báo sau:
Bảng dự báo gia tăng phương tiện và cảnh báo tai nạn hàng năm:
Năm
Dự báo số phương tiện (PT)
Số vụ tai nạn (vụ)
Số người chết (người)
Số người bị thương (người)
2006
296.629
241
269
189
2007
328.790
267
298
210
2008
360.951
293
327
230
2009
393.112
319
357
251
2010
425.273
345
386
271
B.
MỤC TIÊU CHUNG.
Mục tiêu của đề án là: