CHỈ THỊ V/v tổ chức quản lý, điều hành ngân sách năm 2006 của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Năm 2006 là năm cuối của thời kỳ ổn định ngân sách và là năm đầu tiên thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006-2010 theo Nghị Quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ IV. Nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách năm 2006 và tạo đà thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006-2010, các Sở, Ban, Ngành UBND các cấp bám sát Nghị quyết của cấp ủy Đảng, của HĐND cùng cấp đề ra chương trình hành động cụ thể cho ngành mình, đơn vị mình, cấp mình. Trước mắt trong năm 2006, UBND Tỉnh chỉ thị : I/ Về phân bổ và giao dự toán ngân sách năm 2006: 1. Đối với UBND các huyện, thị, thành phố và các xã, phường, thị trấn: - UBND các cấp
căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được UBND cấp trên giao, lập phương án phân bổ ngân sách trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán ngân sách của cấp mình, đảm bảo đúng thời hạn quy định tại Quyết định số 9565/QĐ.UB ngày 17/10/2003 của UBND Tỉnh. - Số giao nhiệm vụ thu không thấp hơn số đã được UBND cấp trên giao. Trường hợp HĐND cùng cấp quyết định giao thu cao hơn so với giao thu của UBND cấp trên (không kể phần tăng thu tiền sử dụng đất) thì phần tăng thêm phải dành 50% để thực hiện cải cách tiền lương, 50% còn lại bố trí và dự phòng ngân sách để chủ động thực hiện phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là phòng chống dịch cúm gia cầm. - Ngân sách các cấp phải dành tối thiểu 50% số tăng thu ngân sách năm 2006 so với dự toán năm 2005 và 50% số tăng thu thực hiện của dự toán năm 2005 so với dự toán năm 2005 được UBND cấp trên giao (không kể thu tiền sử dụng đất) để thực hiện cải cách tiền lương và điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo các Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 và Nghị định số 119/2005/NĐ-CP ngày 13/10/2005 của Chính phủ. Trường hợp sử dụng các nguồn vượt thu nêu trên và các nguồn quy định tại điểm 3 phần I của Chỉ thị này, nếu còn thừa thì được chuyển sang năm sau chi tiếp, không được sử dụng cho mục đích khác; nếu thiếu thì ngân sách Tỉnh cấp bổ sung để đảm bảo nguồn thực hiện cải cách tiền lương. - Phân bổ và giao nhiệm vụ chi cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo không thấp hơn mức chi đã được HĐND Tỉnh phê chuẩn. 2. Các đơn vị dự toán cấp 1 khối tỉnh tiến hành giao dự toán năm 2006 cho các đơn vị trực thuộc phải hoàn thành trước 31/12/2005. Số giao dự toán chi cho các đơn vị trực thuộc phải khớp đúng với dự toán đã được UBND Tỉnh giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực. 3. Đối với đơn vị dự toán các cấp: + Dự toán chi thường xuyên giao cho các đơn vị phải xác định thực hiện và giao nhiệm vụ tiết kiệm 10% chi thường xuyên của dự toán năm 2006 tăng thêm so với dự toán năm 2005 đã giao (không kể tiền lương và các khoản có tính chất tiền lương). Số tiết kiệm 10% của các cơ quan, đơn vị trực thuộc mỗi cấp ngân sách được quản lý tập trung và thực hiện điều hòa giữa các đơn vị khi xác định nguồn thực hiện cải cách tiền lương của từng cơ quan, đơn vị trực thuộc ngân sách cấp mình (không kể các đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện theo Nghị định 10/2002NĐ-CP ngày 16/01/2002 và các đơn vị khoán chi hành chính theo Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ; các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ). + Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có nguồn thu, các đơn vị sự nghiệp có thu sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ quy định (riêng ngành y tế sử dụng tối thiểu 35%,
sau khi trừ tiền thuốc, máu, dịch truyền và hóa chất) để thực hiện cải cách tiền lương.
Sau khi tính toán các nguồn thu để thực hiện cải cách tiền lương mà còn thiếu thì ngân sách cùng cấp sẽ cấp bổ sung. II. Về tổ chức quản lý và điều hành ngân sách năm 2006: 1. Tổ chức quản lý và điều hành thu ngân sách: a) UBND các cấp, cơ quan Thuế, Hải quan và các cơ quan được giao nhiệm vụ thu có trách nhiệm tổ chức triển khai thu ngay từ đầu năm; đảm bảo thu đúng, thu đủ kịp thời vào ngân sách Nhà nước, không để nợ đọng thuế, chống thất thu ngân sách. b) Ngành thuế, Hải quan thực hiện một số công việc cụ thể như sau: - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế; có chính sách khen thưởng và tuyên dương đối tượng nộp thuế. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm, đồng thời đề ra các biện pháp nhằm tăng cường công tác thu, nhất là đối với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời gian tới. - Tổng hợp nợ thuế các hộ kinh doanh còn nợ đọng thuế không có khả năng thu trình cấp có thẩm quyền xử lý theo thẩm quyền, không để tình trạng nợ thuế kéo dài nhiều năm liền. - Giao cho Cục Thuế tiếp tục thực hiện mở rộng diện ủy nhiệm thu, phấn đấu trong năm 2006 thực hiện ủy nhiệm thu 100% các xã, phường, thị trấn và ủy nhiệm thu cho các Ban quản lý chợ. Phối hợp với Kho bạc nhà nước tỉnh tổ chức thực hiện ủy nhiệm thu cho Kho bạc nhà nước thực hiện thu đối với khoản thu thuế XDCB của các nhà thầu tư nhân thanh toán qua Kho bạc nhà nước. - Hướng dẫn và khuyến khích các Doanh nghiệp đăng ký nộp thuế theo hình thức tự khai tự nộp thuế. c) Giao Trung tâm khai thác quỹ đất của Tỉnh, tiến hành lập kế hoạch sử dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn thu từ quỹ đất của tỉnh, theo quy định tại Quyết định 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. 2. Tổ chức quản lý và điều hành chi a) Nguồn thu tiền sử dụng đất được dùng để chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội do ngân sách đảm bảo không được sử dụng cho mục đích khác. b) Giao cho Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi các khoản chi theo đúng chế độ quy định. Thống nhất kiểm soát chặt chẽ các khoản chi thuộc chương trình, mục tiêu đề án; các khoản chi đặc thù; đột xuất và các khoản chi ngoài định mức theo từng nội dung chi và tiến độ thực hiện đã giao trong dự toán đầu năm nhưng chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản chi từ nguồn TW trợ cấp có mục tiêu chỉ được thực hiện khi có nguồn. c) Thực hiện nghiêm pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí. d) Các đơn vị, các cấp, các ngành thực hiện nghiêm chỉnh quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo cho người lao động, nhân dân, mặt trận và các đoàn thể kiểm tra, giám sát các cơ quan, đơn vị trong quản lý, sử dụng kinh phí NSNN nhằm tăng cường chống tham nhũng, tiêu cực…v.v. e) Các ngành, đơn vị có chương trình mục tiêu, đề án tiến hành tổng kết hoặc sơ kết đánh giá hiệu quả để có biện pháp chỉ đạo phù hợp. f) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đổi mới phương pháp tổ chức và nội dung thanh tra; tăng cường tổ chức thanh tra định kỳ; chú trọng tập trung thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, thanh tra đột xuất, thanh tra theo chuyên đề. g) Thực hiện thưởng vượt thu cho các huyện, thị, thành phố trên số vượt thu dự toán HĐND Tỉnh giao năm 2006 của các khoản thu phân chia quy định tại khoản 2 điều 30 Luật NSNN. Mức thưởng là 30%. Số tiền thưởng được sử dụng theo quy định tại Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính. h) UBND Tỉnh chỉ xem xét bổ sung các nhu cầu chi chưa được bố trí trong dự toán đầu năm của các đơn vị và UBND cấp dưới mỗi quý 1 lần vào tháng cuối quý (trừ các trường hợp đột xuất). i) Các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện đúng chế độ công khai tài chính theo Quyết định 192/2004/QĐ.TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ và thực hiện đầy đủ theo quy chế tự kiểm tra tài chính theo Quyết định số 67/2004/QĐ-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính về “Quy chế tự kiểm tra tài chính, kế toán tại các cơ quan, đơn vị có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước”. Yêu cầu các cấp, các ngành trong tỉnh tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện tốt tinh thần Chỉ thị này./.