QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về đất đai và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2008 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 26 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Căn cứ Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 - 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số 710/TTr-STNMT ngày 02 tháng 4 năm 2008 về việc đề nghị phê duyệt chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về đất đai và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2008 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về đất đai và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2008 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày kí.
Điều 3
Giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về đất đai và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2008 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, định kì tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đại diện chương trình SEMLA tại Việt Nam.
Điều 4
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; các ban, ngành có liên quan; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Ngọc Thới
CHIẾN LƯỢC
Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về đất đai và môi trường
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2008 - 2015 và tầm nhìn 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 32/2008/QĐ-UBND
ngày 06 tháng 6 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
I. GIỚI THIỆU CHUNG:
1. Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng (TTNCNTCĐ)
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên là 197.515 ha, dân số khoảng 885 nghìn người (năm 2003). Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu có nhiều tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lí, đất đai và hạ tầng kĩ thuật để phát triển kinh tế đặc biệt là các ngành du lịch, cảng biển, khai thác dầu khí, sản xuất điện, đạm, chế biến hải sản,… Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khá cao, tăng trưởng GDP đạt 12.98% /năm trong những năm 2001 - 2005 (nếu không kể dầu khí thì tăng 21%). Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 -2010, trong đó các chỉ tiêu phát triển là khá cao như: tăng trưởng GDP trung bình/năm giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 11-11.5% (không tính dầu khí tăng khoảng 17%), GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.400 USD, gấp 2,3 lần so với 2000. Quy mô dân số tới 2010 là 1.026.000 người, trong đó đô thị 57,27%, nông thôn 42.73%; đến năm 2020 tổng dân số khoảng 1.180.000 người.
Để đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội song song với nhiệm vụ phát triển bền vững, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 4592/QĐ-UBND phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường tới năm 2015 và tầm nhìn 2020 trong đó có một số điểm chính như: lựa chọn công nghệ sạch, cụ thể hoá các quy định về nhập khẩu công nghệ thiết bị; quy hoạch phù hợp đối với các nhà máy chế biến, nuôi trồng hải sản; phát triển công nghiệp, du lịch…; phân vùng môi trường để có các biện pháp phù hợp; bảo vệ các vùng sinh thái trọng yếu là sinh thái duyên hải, sinh thái rừng quốc gia, sinh thái biển - đảo và sinh thái nông nghiệp. Đối với quản lí đất đai, tỉnh có quan điểm: sử dụng hợp lí và tiết kiệm quỹ đất và tổ chức không gian lãnh thổ trong đó định hướng tới 2010, một số diện tích đất nông nghiệp sẽ được chuyển đổi vào mục đích giao thông, đô thị và công nghiệp. Quy hoạch đất lâm nghiệp tới năm 2020 sẽ còn khoảng 36.684 ha. Tăng đất chuyên dùng và đất ở lên khoảng 21.84% đến năm 2010 và lên 23.44% vào năm 2020 cho phù hợp với quy hoạch phát triển.
Bà Rịa - Vũng Tàu đang đứng trước các cơ hội cũng như các thách thức cho việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề môi trường trước mắt cũng như định hướng phát triển bảo vệ môi trường cho phù hợp với Chiến lược bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, việc giải quyết các vấn đề về phát triển quy hoạch và quản lý qui hoạch sử dụng đất cũng đang là các thách thức lớn cho các cấp chính quyền các ban ngành của tỉnh. Để giải quyết các thách thức này, một trong những yêu cầu quan trọng là phải có sự đồng thuận của người dân, thể hiện qua việc thay đổi hành vi lối sống lành mạnh góp phần giải quyết các vấn đề môi trường cũng như quản lý đất đai. Trong thời gian gần đây, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có rất nhiều cố gắng trong các hoạt động TTNCNTCĐ về đất đai và môi trường, tuy nhiên việc định hướng các hoạt động tuyên truyền trong một kế hoạch tổng thể và dài hạn được lồng ghép với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt việc lồng ghép các hoạt động tuyên truyền giữa các ban, ngành còn chưa được hình thành một cách rõ nét. Vì vậy việc phát triển chiến lược TTNCNTCĐ để làm cơ sở cho các hoạt động TT sẽ được triển khai là cần thiết.
2. Cơ sở pháp lí để xây dựng chiến lược TTNCNTCĐ:
Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2005;
Nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.
Nghị quyết 61-NQ/TW ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.
Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg ngày 09 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010;
Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010;
Quyết định số 4592/QĐ-UBND ngày 01 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
Chỉ thị số 19/2006/CT-UBND ngày 30 tháng 6 năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc thực hiện Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành Luật Đất đai;
Chỉ thị số 12/2006/CT-UBND ngày 06 tháng 4 năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc tổ chức triển khai Luật Bảo vệ môi trường.
3. Phạm vi của chiến lược:
Chiến lược TTNCNTCĐ về chính sách pháp luật đất đai và môi trường được áp dụng cho các cấp chính quyền, các ban, ngành, các đoàn thể xã hội có liên quan đến hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng.
Hiệu quả của hoạt động truyền thông chính là nhận thức của mọi tầng lớp dân cư trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: đô thị, nông thôn; công nhân viên chức - nông dân; người già - trẻ em, người dân tộc thiểu số, các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Nhận thức này sẽ làm chuyển biến thành lối sống, hành vi lành mạnh và tích cực tham gia vào công tác bảo vệ môi trường, chấp hành tốt các chủ chương chính sách về đất đai, tham gia tích cực vào công tác quy hoạch sử dụng đất.
Giai đoạn thực hiện của chiến lược truyển thông sẽ từ 2008 đến 2015 và định hướng tới năm 2020.
4. Xác định hình thức và công cụ truyền thông của chiến lược :
Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ giữa hai hoặc một nhóm người với nhau để đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. Điều quan trọng nhất của truyền thông là “chia sẻ/trao đổi” thông tin hai chiều giữa hai hay nhiều người. Quá trình truyền thông là một quá trình thông tin hai chiều, đòi hỏi dòng thông tin truyền đi phải có phản hồi và được duy trì giữa hai hay nhiều người.
Nhóm đối tượng của chiến lược này sẽ phải phản hồi các thông tin mà họ nhận được, truyền tải chúng đến những đối tượng khác. Điều này có nghĩa là các nhóm đối tượng và các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh phải tham gia vào chiến lược truyền thông NCNTCĐ về đất đai, môi trường nhằm trao đổi các thông tin về quản lí đất đai và bảo vệ môi trường - đảm bảo đạt được các mục tiêu chiến lược TTNCNTCĐ này đề ra và đạt được các mục tiêu được đưa ra trong chiến lược bảo vệ môi trường và các chính sách đất đai liên quan khác của tỉnh.
Chiến lược nâng cao nhận thức cộng đồng về đất đai và môi trường sử dụng các công cụ truyền thông chính như:
+ Truyền thông - dạng in ấn và điện tử.
+ Đào tạo, tập huấn.
+ Giao lưu trực tiếp thông qua các tài liệu đã được viết.
Truyền thông: truyền thông bao gồm tất cả các công cụ in ấn và điện tử hiện có ở cấp quốc gia và cấp tỉnh: tạp chí, báo, ti vi, đài, và các trang điện tử.
Đào tạo: đào tạo ở đây có nghĩa là tích cực phổ biến kiến thức mà giảng viên có được cho những người chưa có kiến thức đó nhằm mục đích đưa họ tham gia và tạo điều kiện cho họ thay đổi hành vi của mình.
Giao lưu trực tiếp: giao lưu trực tiếp là tất cả các hoạt động truyền thông trong đó các cá nhân tìm cách đối thoại với những người khác nhằm giải thích cho họ một vấn đề nào đó - trong trường hợp này là đất đai, môi trường. Trong trường hợp đối thoại có thể sử dụng các tài liệu đã in sẵn như tờ rơi, bộ tài liệu v.v...
II. BỐI CẢNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
1. Thực trạng về công tác quản lí, sử dụng đất đai và môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và những thách thức, áp lực trong quá trình phát triển
a) Thực trạng công tác quản lí nhà nước về đất đai và môi trường
Đất đai và môi trường luôn là những vấn đề nổi cộm, nhạy cảm và rất phức tạp, được nhân dân địa phương rất quan tâm. Nếu như quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt, thiêng liêng gắn bó với đời sống người dân; thì môi trường lại ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của con người. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai và môi trường hàng năm không giảm, chiếm tỉ lệ đa số các khiếu nại tố cáo của người dân gửi đến các cơ quan nhà nước yêu cầu giải quyết, đặc biệt là đất đai.
Thực trạng sử dụng đất đai, môi trường trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nơi đã đến lúc phải báo động. Hiện tượng lấn chiếm đất đai giữa các hộ gia đình đã diễn ra nhiều (đặc biệt ở các vùng nông thôn của tỉnh); việc sử dụng đất đai trái phép như: tự ý sử dụng đất khi chưa được cơ quan nhà nước cho phép, tự ý chuyển nhượng không tiến hành các trình tự thủ tục qua cơ quan có thẩm quyền; sử dụng đất không đúng mục đích được giao, không đúng quy hoạch, khai thác đất bừa bãi đã diễn ra rất nhiều địa phương trong tỉnh. Mặt khác, việc đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng trong quá trình xây dựng các công trình, dự án chưa thoả đáng hoặc do người dân còn không hiểu hết về các chủ trương, chính sách dẫn đến các khiếu kiện, dây dưa không chịu di chuyển, làm ảnh hưởng đến tiến độ của các dự án cần mặt bằng.
Môi trường đang bị xuống cấp nghiêm trọng, đất đai bị xói mòn, thoái hóa, chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh, không khí ở đô thị, ở nhiều khu dân cư bị ô nhiễm nặng. Tại một số nhà máy sản xuất, chất thải không được xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho khu dân cư xung quanh, làm ô nhiễm nguồn nước, nhất là sông Thị Vải đang bị đe dọa. Sự suy thoái môi trường sinh thái gắn liền với sự suy kiệt nguồn tài nguyên và giảm tính đa dạng sinh học, điều kiện vệ sinh môi trường nhiều nơi không đảm bảo. Đặc biệt tại các khu vực phát triển kinh tế tập trung như các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư hoàn chỉnh các hạng mục công trình bảo vệ môi trường. Ngoài ra, môi trường nông thôn và bán thành thị trên địa bàn tỉnh, ô nhiễm môi trường xảy ra tại các hộ gia đình, khu dân cư ven biển do việc thiếu kiến thức vệ sinh môi trường trong chăn nuôi, trồng trọt và tình trạng vứt rác bừa bãi của các hộ dân cư ven biển rất phổ biến.
Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết là do năng lực quản lí nhà nước về đất đai và môi trường của cán bộ tài nguyên và môi trường còn yếu kém trong nghiệp vụ, chưa nhận thức đúng, đầy đủ về pháp luật đất đai và môi trường, trách nhiệm quản lý nhà nước chưa cao dẫn đến trong hoạt động quản lí nhà nước đã có các hành vi, quyết định hành chính vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền lợi của công dân.
Nhận thức của người dân về pháp luật đất đai và môi trường chưa đúng, chưa đầy đủ; nhiều khi các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ đã đúng pháp luật nhưng người dân vẫn có đơn khiếu tố.
Nhiều quy định về đất đai và môi trường còn chưa phù hợp với thực tế, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đất đai và môi trường hay thay đổi, rườm rà dẫn đến việc các văn bản này một cách hệ thống cũng như hiểu đúng là khó khăn.
Ý thức của người dân về bảo vệ môi trường và sử dụng đất đai còn bị hạn chế. Một bộ phận không nhỏ người dân biết rõ hành vi lấn chiếm đất đai, sử dụng đất trái phép của mình là vi phạm pháp luật, ô nhiễm môi trường, thậm chí tai họa môi trường bởi những hành vi của họ gây ra nhưng vẫn thực hiện như chặt phá rừng bừa bãi, buôn bán bất động sản quý hiếm, thải các chất độc hại ra môi trường vì lợi ích riêng trước mắt.
Chế tài thực hiện và việc thực hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật liên quan đến môi trường, đất đai chưa tốt, chưa nghiêm minh.
b) Những thách thức nảy sinh liên quan đến vấn đề phát triển:
Việc phát triển kinh tế - xã hội gây tác động không nhỏ đến vấn đề môi trường trên địa bàn tỉnh như:
Áp lực từ việc gia tăng dân số sẽ gây sức ép đối với việc tập trung giải quyết các tiện ích công cộng như y tế, giáo dục, cấp thoát nước, xử lí rác thải và việc hình thành các công viên cây xanh, khu giải trí,…;
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá bên cạnh mang lại lợi ích lợi ích kinh tế khá rỏ nét, nhưng cũng gây áp lực gia tăng dân số cơ học và gây khó khăn trong công tác quản lí hành chính và ngăn ngừa các tệ nạn xuất phát từ các khu dân cư gần các khu công nghiệp, làm chuyển dịch một cách sâu sắc cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế tại các địa phương, làm gia tăng mạnh mẽ các chất thải công nghiệp, một mặt ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, mặt khác tăng áp lực giải quyết các chất thải này.
Khai thác thuỷ sản tạo ra nhiều nguồn lợi về kinh tế xã hội, tuy nhiên việc khai thác quá mức và bằng một số phương tiện khai thác huỷ diệt như nổ mìn, giã cào, … gây nguy cơ làm cạn kiệt nguồn thuỷ sản, gây mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến phát triển bền vững.
Gia tăng khách du lịch, đồng thời cũng gia tăng chất thải (nhiều nhất là chất thải rắn) cùng với sự phá hại các nguồn tài nguyên nếu không có các biện pháp quản lý thích hợp. Khu vực chịu áp lực nặng nề nhất là các bãi biển (do nước thải và rác thải), nhiều bãi tắm đã có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ và dinh dưỡng. Sự suy giảm cảnh quan tự nhiên do hoạt động du lịch không gắt gao, tuy nhiên về lâu dài thì sự thiệt hại là lớn. Ô nhiễm bên ngoài ngành du lịch cũng đe dọa đến tài nguyên ngành du lịch như các chất thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp.
Việc tăng diện tích nuôi tôm, phát triển công nghiệp và hệ thống cảng tại sông Thị Vải cũng là một trong những nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích rừng ngập mặn tại đây.
Áp lực từ việc chuyển đổi một diện tích lớn đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng và việc đô thị hoá cao, trong khi nhận thức của người dân còn thấp. Việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết và quy hoạch chi tiết xây dựng chưa được thực hiện hoặc thực hiện còn hình thức, ít hiệu quả, nhiều nơi chưa được coi trọng; việc xây dựng các phương án quy hoạch để lựa chọn chưa thật khách quan.
Việc công bố công khai quy hoạch đã được xét duyệt chưa được coi trọng thực hiện hoặc thực hiện còn hình thức, chưa có hiệu quả.
2. Bối cảnh triển khai hoạt động truyền thông
a) Nhân lực cho truyền thông:
Cơ cấu tổ chức hiện tại của công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và truyền thông trong ngành tài nguyên và môi trường ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. ( Xem sơ đồ tại file word)
Cơ cấu tổ chức liên quan đến hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng và truyền thông của các tổ chức, đoàn thể xã hội có liên quan. ( Xem sơ đồ tại file word)
Nhìn chung, cơ chế cho hoạt động truyền thông thường gắn với nhiệm vụ chính trị của ngành, chưa có sự gắn kết điều phối chung cho các hoạt động truyền thông đất đai và môi trường.
b) Cơ chế tài chính cho các hoạt động truyền thông
Trong thời gian qua, các ngành, các cấp đã lồng ghép chức năng nhiệm vụ của đơn vị triển khai hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về đất đai và môi trường thông qua việc tổ chức tập huấn, tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề và các hoạt động lồng nghép được cấp trên giao triển khai thực hiện. Đặc biệt từ khi có sự hỗ trợ của dự án SEMLA về tăng cường năng lực quản lí về đất đai và môi trường, các hoạt động truyền thông đã được triển khai một cách hết sức mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh.
Chương trình truyền thông được lồng ghép vào nhiều hoạt động khác nhau, nâng cao nhận thức và thu hút được nhiều đối tượng tham gia, hình thức truyền thông phong phú.
MỤC TIÊU CỦA CHIẾN LƯỢC:
Mục tiêu của chiến lược:
Mục tiêu chung
Mục tiêu cụ thể tới năm 2015
Mục tiêu 1: năng lực truyền thông đất đai và môi trường của các cán bộ các ban ngành liên quan và các cấp chính quyền đủ mạnh để có thể triển khai các chương trình truyền thông về đất đai và môi trường được kết phối hợp với nhiệm vụ chính trị của mình cũng như các chương trình kết phối hợp với các ban, ngành liên quan.
Mục tiêu 2: nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về tài nguyên môi trường được nâng cao, trong đó chú trọng đến sản xuất sạch hơn, các sản phẩm thân thiện với môi trường và các chính sách về đất đai và môi trường của Nhà nước.
Mục tiêu 3: năng lực giáo viên được nâng cao để có thể triển khai các hoạt động ngoại khoá về giáo dục về tài nguyên môi trường trong các trường học phổ thông trung học, phổ thông cơ sở và tiểu học.
Mục tiêu 4: công khai hoá các quy hoạch sử dụng đất, tăng cường đối thoại và lôi kéo được người dân tham gia vào công tác quản lí môi trường và đất đai.
Mục tiêu 5: thực hiện các chương trình truyền thông có trọng điểm một cách có hiệu quả, kết hợp với các dự án/chương trình bảo vệ môi trường, nước sạch và vệ sinh môi trường, hỗ trợ cho các chỉ tiêu phát triển kinh tế và môi trường của tỉnh.
Mục tiêu