QUYẾT ĐỊNH Ban hành đề án tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2009 - 2010 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004;
Căn cứ Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình;
Căn cứ Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình;
Căn cứ Chỉ thị số 12-CT/TU của Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 21 tháng 11 năm 2006 về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 47-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2006 - 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 30/2008/NQ-HĐND ngày 05 tháng 12 năm 2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc ban hành đề án tiếp tục thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2009 - 2010;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế tỉnh tại Tờ trình số 2319/TTr-SYT ngày 19 tháng 12 năm 2008 về việc đề nghị phê duyệt đề án tiếp tục thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2009 - 2010,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Nay ban hành kèm theo Quyết định này đề án tiếp tục thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2009 - 2010.
Điều 2
Giao cho Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức triển khai thực hiện.
Điều 3
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 4
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các Sở: Y tế, Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư, Thông tin và Truyền thông, Giáo dục và Đào tạo, Tư pháp; Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm thi hành./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Võ Thành Kỳ
ĐỀ ÁN
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2009 - 2010.
(Ban hành kèm theo Quyết định số 81/2008/QĐ-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
I. THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH HIỆN NAY CỦA TỈNH:
1. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã được khống chế nhưng qui mô dân số của tỉnh tiếp tục tăng bình quân 15.000 người mỗi năm:
Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong các tỉnh có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp của cả nước và tỉnh đã đạt được mức sinh thay thế (có nghĩa bình quân mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có 2 con). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2001 của tỉnh là 1,47% và đến năm 2008 ước thực hiện là 1,18%, bình quân tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thời gian qua giảm 0,04%/năm
Năm 2001 dân số trung bình của tỉnh là 841.500 người và đến năm 2008 ước tính dân số trung bình là 995.000 người. Như vậy bình quân mỗi năm toàn tỉnh tăng thêm khoảng 15.000 người. Do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp nên số người tăng thêm hàng năm của tỉnh chủ yếu là tăng cơ học. Các đối tượng di dân tự do rất khó quản lý nên đây vừa là một thế mạnh của tỉnh thu hút nhân lực vào các khu công nghiệp nhưng cũng là một gánh nặng trong công tác quản lý dân số-kế hoạch hóa gia đình.
2. Mức sinh hàng năm của tỉnh đều giảm nhưng chưa thật sự vững chắc và còn tiềm ẩn nguy cơ mức sinh tăng trở lại:
Tỷ suất sinh của tỉnh năm 2001 là 18,18 ‰ và ước tính năm 2008 sẽ là 15,8 ‰. Như vậy với nỗ lực của các cấp các ngành, tỷ suất sinh hàng năm của tỉnh đều giảm. Tuy nhiên nếu theo dõi mức giảm sinh những năm gần đây của tỉnh sẽ thấy có những giai đoạn chúng ta giảm nhanh và có giai đoạn mức giảm sinh bị chững lại. Cụ thể trước năm 2003, mức giảm sinh mỗi năm bình quân là 0,5‰, đến năm 2003 Pháp lệnh Dân số được ban hành và giai đoạn đầu do sự hiểu lệch lạc nội dung của Pháp lệnh Dân số đã làm cho mức giảm sinh chững lại và tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng đột biến. Với sự chỉ đạo kiên quyết của cấp ủy và chính quyền trong 2 năm 2004 và 2005 và nhất là sự ra đời của Nghị quyết 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình đã kiềm chế mức sinh. Tỷ suất sinh trong 3 năm 2005 - 2007 đã giảm bình quân 0,3 phần ngàn/năm. Tuy nhiên đến năm 2008, với sự biến động bộ máy quản lý chương trình dân số-kế hoạch hóa gia đình các cấp và sự lơi lỏng trong công tác chỉ đạo của một số địa phương, một lần nữa mức sinh có chiều hướng gia tăng và năm 2008 tỉnh có khả năng chỉ giảm được 0,22 phần ngàn so với chỉ tiêu kế hoạch giao là 0,3 phần ngàn.
Song song với tỷ suất sinh là tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cũng dao động “lên, xuống”. Đặc biệt trong hai năm 2003 - 2004 có sự tăng tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên đột biến trong một số bộ phận đảng viên, cán bộ, viên chức và đã ảnh hưởng đến phong trào thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Giai đoạn 2001 - 2003 tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên hàng năm đều giảm bình quân 1% nhưng đến năm 2003 -2004 đã chững lại và sau đó chỉ giảm bình quân mỗi năm 0,5%. Đặc biệt năm 2008 khả năng tỉnh giảm được 0,4% so với kế hoạch giao là giảm 0,5%.
Như vậy, mặc dù tỉnh đã đạt mức sinh thay thế nhưng mức giảm sinh của tỉnh hiện nay chưa thật sự bền vững. Nếu không có những giải pháp tích cực sẽ xuất hiện tình trạng tăng sinh trở lại và cơ cấu dân số sẽ tăng trong những năm tới. Kết quả giảm sinh hàng năm không thực sự bền vững và điều này thể hiện rõ nhất mỗi khi có những yếu tố không tốt tác động thì mức sinh của tỉnh lại có chiều hướng giảm chậm và tỷ lệ sinh con thứ ba tăng lên.
3. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai đạt mức cao, nhưng chưa bảo đảm vững chắc để duy trì mức sinh thay thế:
Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là yếu tố quan trọng để đảm bảo duy trì mức sinh thay thế. Tỷ lệ này năm 2001 là 71,2 % và mỗi năm tăng bình quân khoảng 1,5%. Đến năm 2008 tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ở mức 81,5 % (tương đương với mức của các nước phát triển).
Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại (như triệt sản, dụng cụ tử cung, thuốc tránh thai và bao cao su) chưa tương thích với mức sinh thay thế và chưa đảm bảo vững chắc để duy trì mức sinh thay thế. Vẫn con nhiều người sử dụng không thường xuyên biện pháp tránh thai và tạo nguy cơ “vỡ kế hoạch”.
Cơ cấu các biện pháp tránh thai đã được đa dạng hóa, một số biện pháp tránh thai hiện đại đã được triển khai như sử dụng thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, đa dạng hóa nhiều loại thuốc uống tránh thai… . Tuy nhiên 2 biện pháp tránh thai hữu hiệu nhất là triệt sản và đặt dụng cụ tránh thai có xu hướng giảm số lượng người sử dụng, đặc biệt là số người triệt sản khá thấp so với kế hoạch giao hàng năm.
4. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, nhưng còn ở mức độ thấp gây cản trở sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh:
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang thực hiện giai đoạn 2 của chiến lược dân số đến năm 2010 là giai đoạn mà việc nâng cao chất lượng dân số được chú trọng. Một số chỉ tiêu về sức khỏe bà mẹ, trẻ em trong thời gian qua đã đạt kết quả khá tốt do những nỗ lực trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi từ năm 2001 đến nay bình quân là 3,7 phần ngàn và ở mức thấp của cả nước. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã được khống chế và giảm từ 26,42% năm 2001 xuống còn 15,1 % vào năm 2007. Thông qua các chỉ số sức khỏe đạt được trong thời gian qua có thể khẳng định tầm vóc, thể lực của trẻ em, thanh thiếu niên của tỉnh có tăng trưởng.
Tuy chất lượng dân số của tỉnh đã được cải thiện nhưng chưa thật sự ổn định. Vấn đề dị tật bẩm sinh và tàn tật, tàn phế do tai nạn giao thông, tai nạn lao động chưa có giải pháp can thiệp hiệu quả. Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS, nhất là đối với vị thành niên/thanh niên gây tác hại lâu dài. Các tố chất về tầm vóc, thể lực của con người còn nhiều hạn chế. Việc theo dõi những dị tật trước sinh và sơ sinh chưa được chú trọng đúng mức cũng đã ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dân số của tỉnh.
5. Cơ cấu dân số của tỉnh đang ở giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” nhưng tỷ số giới tính khi sinh đang ở mức cao:
Cơ cấu dân số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay ở giai đoạn cơ cấu dân số “vàng”. Nghĩa là dân số trong độ tuổi lao động tăng cao và tỷ lệ dân số phụ thuộc giảm. Nếu chúng ta được sử dụng “lợi thế về nhân khẩu học” này và nguồn lao động dồi dào sẽ tăng cường cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Ngược lại nếu không có giải pháp phù hợp về sử dụng nguồn lao động thì lợi thế này sẽ trở thành thách thức trong việc giải quyết công ăn việc làm, hạn chế đáng kể đến các khả năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
Tỷ số giới tính khi sinh của cả nước có xu hướng tăng và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng bắt đầu có tình trạng này. Qua khảo sát tỷ lệ giới tính của tỉnh khoảng 110 nam/100 nữ cao hơn mức bình thường (105 nam/100 nữ). Điều này cảnh báo sẽ có nguy cơ dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh.
6. Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình thời gian qua đã khuyến khích người dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình nhưng chưa cao và chính sách đãi ngộ đối với cộng tác viên còn hạn chế:
Chính sách khen thưởng cho các tập thể làm tốt công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình hiện nay chủ yếu theo hướng dẫn của Trung ương và chỉ khen thưởng ở cấp xã (thưởng 2 triệu đồng/xã). Các thôn, ấp, khu phố không sinh con thứ ba trở lên chưa được khen thưởng tương xứng.
Đối với người thực hiện kế hoạch hóa gia đình hiện tại tỉnh chỉ động viên cho người triệt sản thêm 100.000 đồng ngoài phần hỗ trợ theo qui định của Trung ương. Người có công vận động triệt sản cũng chưa được khuyến khích thỏa đáng. Mức khuyến khích của tỉnh hiện nay rất thấp so với các tỉnh trong khu vực và chưa thật sự động viên người dân thực hiện các biện pháp tránh thai có hiệu quả lâu dài.
Chính sách hỗ trợ cho các cộng tác viên dân số - kế hoạch hóa gia đình từ nguồn kinh phí địa phương chưa thỏa đáng với công sức và hiệu quả công việc. Mức hỗ trợ của tỉnh hiện nay là 10.000 đồng/người/tháng. Nếu cộng cả kinh phí của trung ương là 60.000 đồng/người/ tháng là quá thấp.
Chính sách xử phạt các tập thể, cá nhân vi phạm chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình chưa thật sự nghiêm minh và chưa rõ ràng nhất là đối với cán bộ công chức, viên chức, đảng viên đã ảnh hưởng đến việc tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình.
7. Nguyên nhân:
Nguyên nhân của kết quả đạt được:
Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình phù hợp với nguyện vọng của nhân dân toàn tỉnh. Việc thực hiện chính sách qui mô gia đình nhỏ ít con thực sự đã đem lại lợi ích cho bản thân, lợi ích kinh tế, tinh thần và sức khỏe cho mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội nên đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng và tích cực thực hiện.
Các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở phần lớn nhận thức được rằng “dù cố gắng phát triển kinh tế - xã hội, nhưng tỷ lệ tăng dân số không được kiềm chế thì rất khó khăn trong việc phát triển và nâng cao đời sống nhân dân”. Vì vậy, các cấp các ngành đã xác định giải quyết vấn đề qui mô dân số là khâu đột phá cho sự phát triển. Sự cam kết chính trị mạnh mẽ của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp là điều có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện thành công chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Huy động được toàn xã hội tham gia thực hiện công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình. Các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã lồng ghép mục tiêu, chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình vào nhiệm vụ, hoạt động của đơn vị, đã tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm cao, đưa công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động của ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị mình.
Mạng lưới quản lý công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đủ sức điều phối chương trình và có mạng lưới làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đến tận thôn, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố. Mạng lưới chuyên trách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã điều phối hoạt động của các ngành, đoàn thể một cách thống nhất, tạo sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Mạng lưới cộng tác viên cơ sở thực sự là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Đầu tư cho công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được tăng cường và phương pháp quản lý có hiệu quả: trong giai đoạn 2001 - 2008 ngoài phần kinh phí trung ương phân bổ (bình quân khoảng 4,5 tỷ đồng/năm); hàng năm ngân sách tỉnh luôn bổ sung để nâng cao tính hiệu quả của chương trình ở mức bình quân mỗi năm khoảng 1 tỷ đồng. Phương thức thực hiện là quản lý thống nhất nguồn lực và phân bổ công khai kinh phí từ đầu năm, phân cấp cụ thể trách nhiệm từng cấp, sử dụng kinh phí thông qua hợp đồng trách nhiệm đã mang lại hiệu quả thiết thực.
Công tác tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số - kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh, toàn diện và đồng bộ, tạo sự đồng thuận của xã hội.
Hệ thống cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình được củng cố và phát triển, đồng thời triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ đến từng gia đình và người sử dụng.
Nguyên nhân của những hạn chế, đặc biệt trong giai đoạn 2001 đến nay:
Tâm lý tập quán muốn đông con, phải “có nếp có tẻ” là nguyên nhân khó khăn phức tạp và lâu dài để thực hiện mô hình qui mô nhỏ từ 1 đến 2 con, bảo đảm cân bằng giới tính và nâng cao chất lượng dân số.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện mức sinh đã thấp nên tốc độ giảm sinh sẽ chậm lại và khó khăn hơn nhiều so với giai đoạn trước đây.
Một số cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể có tư tưởng chủ quan thỏa mãn với những thành tích đã đạt được nên có thời điểm đã buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Sự thiếu chặc chẽ trong nội dung của Pháp lệnh Dân số đã tạo nên sự cố tỉnh hiểu lệch lạc nội dung của Pháp lệnh Dân số nhất là trong một số bộ phận cán bộ đảng viên đồng thời việc chưa xử lý chưa nghiêm những cán bộ đảng viên vi pháp chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã có tác động tiêu cực đến phong trào nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về dân số - kế hoạch hóa gia đình chưa đầy đủ, nội dung và hình thức truyền thông chưa phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của từng địa phương và từng đối tượng, chưa dự báo đúng tình hình để định hướng dư luận xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Từ năm 2001 đến nay hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình các cấp luôn trong tình trạng không ổn định, thay đổi nhiều đã ảnh hưởng đến hiệu quả chương trình.
Đầu tư nguồn lực cho công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình chưa đáp ứng nhu cầu và không ổn định.
II. TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU GIAI ĐOẠN 2009 -2010
A) QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ
MỤC TIÊU
Mục tiêu:
Mục tiêu giảm sinh:
Mục tiêu: duy trì mức sinh thấp, chú trọng giảm sinh ở những địa bàn có tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao như các huyện Xuyên Mộc, Châu Đức và Tân Thành. Các huyện còn lại cần chuyển hướng mạnh trong việc đề ra mục tiêu cụ thể về nâng cao chất lượng dân số.
Mục tiêu về cơ cấu dân số và chất lượng dân số:
MỤC TIÊU: