NGHỊ QUYẾT Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2002 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 21/6/1994
Sau khi xem xét các Báo cáo của Thường trực Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân của các ngành; Báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh; Phát biểu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; ý kiến, kiến nghị của cử tri và ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng Nhân dân tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ Nhất trí với Báo cáo của Thường trực Hội đồng Nhân dân về hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2002. Tán thành Báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh và các ngành về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, thực thi pháp luật năm 2001 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2002. A. Đánh giá tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh năm 2001: Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, với sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, chính quyền và các ngành, các cấp, thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh, chúng ta đã hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Hội đồng nhân dân tỉnh đã Quyết nghị tại kỳ họp thứ 4. Năm 2001, hầu hết chỉ tiêu kinh tế, xã hội chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với mức bình quân cả nước, tổng sản phẩm nội địa kể cả dầu khí thô tăng 13,3%, trừ dầu khí thô tăng 14,2%. Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ phát triển khá. Hai lĩnh vực được xác định ưu tiên là thủy sản và du lịch tiếp tục chuyển biến tích cực. Huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả khá, giá trị dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tăng cao. Thu ngân sách đạt và vượt kế hoạch. Nguồn vốn ngân sách được tập trung đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã góp phần phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu về đời sống của nhân dân trong tỉnh. Công tác quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả hơn. Cơ sở vật chất và chất lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, xã hội được nâng lên, nhiệm vụ an ninh quốc phòng được triển khai tích cực, đạt kết quả bước đầu. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tỉnh nhà vẫn còn một số tồn tại, yếu kém cần khắc phục . Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn, doanh thu nội thương và tổng vốn đầu tư toàn xã hội không đạt kế hoạch. Đầu tư xây dựng cơ bản triển khai còn chậm. Sản xuất phát triển nhưng việc tiêu thụ sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu. Việc sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp nhà nước gặp nhiều khó khăn vướng mắc, không đạt kế hoạch và yêu cầu đề ra. Quản lý nguồn thu có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn bất cập, nợ đọng thuế và trốn thuế còn chiếm tỷ lệ cao. Chậm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các huyện, thị. Quản lý đô thị có lúc, có nơi còn bị buông lỏng. Công tác dạy nghề, tạo công ăn việc làm đạt hiệu quả thấp. Tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Đời sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn khó khăn. B. Nhiệm vụ kinh tế-xã hội của tỉnh năm 2002: Hội đồng nhân dân tỉnh đồng ý phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh năm 2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh trình tại kỳ họp và quyết định lấy năm 2002 là năm tập trung "Chấn chỉnh kỷ luật hành chính và tăng cường công tác quản lý đô thị". Hội dồng nhân dân tỉnh quyết nghị một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sau đây: I. Một số chỉ tiêu chủ yếu: 1 . Chỉ tiêu về kinh tế : Tốc độ tăng trưởng GDP cả dầu khí và khí đốt tăng 10%, trừ dầu khí và khí dốt tăng 15,6% so với mức thực hiện năm 2001. Giá trị sản xuất công nghiệp kể cả dầu và khí đốt tăng 0,5%, trừ dầu và khí đốt tăng 15,8%. Doanh thu thương mại- dịch vụ tăng 12,1%, trong đó: nội thương tăng 11,5%; dịch vụ tăng 13,3%; riêng du lịch tăng 11,7%. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5%; ngư nghiệp tăng 8,8%. - Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn khoảng 2.697 triệu USD; giá trị xuất khẩu trừ dầu khí 137 triệu USD, trong đó xuất khẩu hải sản 58 triệu USD. Tổng thu ngân sách trên địa bàn khoảng 27.041 tỷ đồng. Trong đó thu không kể dầu khí và thuế xuất nhập khẩu 3.241 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương 1.279 tỷ đồng. Tổng vốn đẩu tư phát triển thực hiện trên địa bàn khoảng 12.700 tỷ đồng tăng 58,4% so với thực hiện năm 2001; trong đó vốn Trung ương đầu tư 2.510 tỷ đồng; vốn do địa phương quản lý 1.560 tỷ đồng; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8.630 tỷ đồng (573,3 triệu USD). 2. Chỉ tiêu về xã hội: Giảm tỷ lệ sinh 0,5%o, tăng dân số tự nhiên còn 1,42%. Giải quyết việc làm cho 22.500 lao động, trong đó tạo việc làm mới cho khoảng 7.000 lao dộng, lao động qua đào tạo đạt 27%, xuất khẩu lao động 500 người. Không để hộ đói phát sinh, giảm 2.000 hộ nghèo, còn khoảng 7,7%. Huy động số cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ đạt 8%, mẫu giáo vào trường đạt 48,9%; ổn định số lượng học sinh phổ thông các cấp; đẩy mạnh công tác phổ cập trung học cơ sở. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 24%. Mức hưởng thụ văn hóa 20,5 lần/người/ năm, gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa 75%, ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa 48,5%, số người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên so với dân số 15%; dân số được xem truyền hình 95,2%. 89% dân số nông thôn được dùng điện sinh hoạt, 79% được dùng nước sạch. Vận động xây dựng 500 căn nhà tình thương, phấn đấu hoàn thành chương trình xây dựng 2.500 căn nhà tình thương vào năm 2003 theo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 3. II. Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: . 1. Về kinh tế - ngân sách: Từng bước hoàn thiện các khu công nghiệp hiện có, nhất là Khu công nghiệp Phú Mỹ 1 và Khu công nghiệp Đông Xuyên. Giải quyết tốt hơn công tác tái định cư, đền bù, giải phóng mặt bằng đối với những công trình trọng điểm. Thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động đầu tư và xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các Ban quản lý dự án trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chặt chẽ công tác đấu thầu trong xây dựng, thực hiện chế tài khi xảy ra những vi phạm về tiến độ thi công và chất lượng công trình. Thực hiện các quy định trách nhiệm đối với các đơn vị tư vấn. Có quy chế công khai hóa hoạt động đầu tư và quy chế giám sát quá trình đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách. Bên cạnh việc phát triển các cơ sở sản xuất dùng công nghệ cao, cần chú trọng phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện để thu hút lao động ở địa phương. Lập dự án phát triển gia súc, gia cầm, trong đó chú trọng lập trạm, trại giống để phát triển giống có năng suất và chất lượng cao. Quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi. Trong quý II, hoàn thành việc quy hoạch các khu vực nuôi trồng hải sản ở Long Hương, Phước Thuận, Lộc An... Có giải pháp khả thi để đầu tư đổi mới công nghệ đánh bắt hải sản và bảo quản sau đánh bắt. Tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cả, trước hết tại Bến Đầm, Lộc An. Lập quy hoạch một vài khu chế biến hải sản tập trung, để đảm bảo trong 2 đến 3 năm tới di dời các cơ sở chế biến hải sản ra khỏi thành phố Vũng Tàu và các khu đông dân cư, những cơ sở hiện có phải có giải pháp hữu hiệu giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tìm kiếm và tiếp cận nhiều thị trường, thu hút đầu tư. Nghiên cứu thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm phối hợp hoạt động, trao đổi thông tin, hạn chế tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động xuất khẩu. Đẩy mạnh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh. Triển khai thực hiện các đề án phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin. Triển khai nhanh các dự án cải tạo môi trường, xử lý chất thải; đảm bảo tốt vệ sinh bãi biển, đô thị; xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tiếp tục sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các thành phần kinh tế. Trong năm 2002, thực hiện cổ phần hóa Công ty Thương mại tổng hợp, Công ty Khoáng sản, Công ty Xây lắp và Xí nghiệp May xuất khẩu Vũng Tàu. Phấn đấu tăng thu, vượt thu để có nguồn tăng chi cho đầu tư phát triển, chi cho các ngành kinh tế mũi nhọn, chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước có khả năng phát triển bền vững. Tăng chi cho chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng ở một số xã, phường còn khó khăn và khu vực có đồng bào dân tộc sinh sống, cải tiến thủ tục để các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn và sử dụng các nguồn vốn ưu đãi sớm phát huy hiệu quả. Thực hiện thưỏng vượt thu ngân sách đối với khoản thu ngoài quốc doanh cho các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tương tự cơ chế Trung ương áp dụng cho tỉnh. Nghiên cứu bố trí một khoản kinh phí trong năm 2002 để hồ trợ thực hiện việc thúc đẩy đầu tư, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Có giải pháp để lành mạnh hóa tình hình tài chính một số doanh nghiệp hiện đang hoạt động có hiệu quả. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 29/2001/CT/TTg ngày 30-11-2001 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Hạn chế tình trạng chi vượt dự toán. Thực hiện thí điểm khoán biên chế và chi quản lý hành chính ở một số đơn vị trong tỉnh. 2. Về văn hóa-xã hội . Ủy ban nhân dân tỉnh cần sớm điểu chỉnh quy hoạch về phát triển cơ sở hạ tầng bệnh viện, trường học, cơ sở thể dục thể thao, văn hóa thông tin và có cơ chế, chính sách ưu dãi để thu hút đầu tư vốn, chất xám vào lĩnh vực này nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của xã hội. Tiếp tục phát triển các ngành dọc, đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo. Thực hiện tốt hơn quản lý nhà nước đối với hoạt động của các trường ngoài công lập. Quan tâm đầu tư và chỉ đạo để các xã. phường sớm hoàn thành chương trình phổ cập trung học cơ sở. Đáp ứng yêu cầu về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và các chế độ chính sách khác để phát triển sự nghiệp giáo dục. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số trường chuyên nghiệp như Trưởng Trung học y tế, Trường Cao đẳng cộng đồng, Trường dạy nghề Tân Thành. Triển khai thực hiện đề án phát triển y tế đến năm 2005. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cho các bệnh viện cấp tỉnh và một số trung tâm y tế cấp huyện, kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền để đáp ứng việc khám chữa bệnh cho nhân dân. Nâng cao y đức, y thuật cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, cải thiện chất lượng phục vụ đối với bệnh nhân có bảo hiểm y tế. Phấn đấu đến năm 2003 không còn người bị mù vì đục thủy tinh thể. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên ngành cho đài phát thanh - truyền hình, báo chí, văn hóa thông tin để có những chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thông tin và giải trí của nhân dân. Thực hiện xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao. Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao cơ sở và phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên tham gia thi đấu các giải thể thao thành tích cao quốc gia và quốc tế. Tiếp tục thực hiện phong trào xây dựng khu phố, thôn ấp, gia đình văn hóa. Tổ chức tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vãn hóa ở khu dân cư”. Sớm xây dựng và triển khai thực hiện chương trình 4 giảm về “ tội phạm, tệ nạn ma túy, mại dâm và tai nạn giao thông” từ nay đến năm 2005. Đầu tư xây dựng mới một trung tâm cai nghiện bắt buộc có kết hợp dạy văn hóa, dạy nghề và tổ chức tốt việc cai nghiện tại các trung tâm. Có chính sách phù hợp đối với những người làm công tác quản lý, công tác dự phòng, điều trị và chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Tiếp tục thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, quan tâm đến đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ và một bộ phận công chức, lao động nghèo. Tăng cường các nguồn vốn từ ngân sách và vận động các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, các nhà hảo tâm cùng góp sức, giúp đỡ về vốn, phương thức làm ăn để người nghèo tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Thực hiện tốt hơn chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo. Tổ chức thực hiện tốt các chính sách Ưu đãi đối với người có công, giúp đỡ người tàn tật, cơ nhỡ, trẻ em mồ côi, người già cô đơn không nơi nương tựa, tổ chức có hiệu quả các hoạt động cứu trợ xã hội. 3. Về an ninh-quốc phòng và thực thi luật pháp : Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, mạng lưới an ninh nhân dân. Không ngừng nâng cao cảnh giác làm thất bại mọi mưu toan phá hoại của các thế lực thù địch. Hoàn thành các chỉ tiêu tuyển quân, huấn luyện quân dự bị. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, tạo điều kiện cho quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự được học nghề, có việc làm và ổn định cuộc sống. Tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức và tinh giảm biên chế. Thực hiện công khai, dân chủ trong các cơ quan, đơn vị, giảm khó khăn, phiền hà cho dân, cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Tăng cường trách nhiệm các ngành các cấp trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân; giải quyết dứt điểm không để các vụ khiếu kiện tồn đọng kéo dài, vượt cấp. Tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc thực thi pháp luật. C. Về các tờ trình và kiến nghị của UBND tỉnh: Hội đồng nhân dân tỉnh đồng ý cho thực hiện các nội dung kiến nghị của UBND tỉnh: 1. Đồng ý với chủ trương dùng vốn ngân sách địa phương để đầu tư phát triển kinh tế trên cơ sở các đề án dược phê duyệt đúng mục đích, có hiệu quả. 2. Cho thực hiện thí điểm việc hợp đồng một số nhân viên làm việc ở trung tâm văn hóa cấp xã và cấp huyện. Kinh phí do ngân sách địa phương chi trả. D. Về guvết toán NSNN năm 2000, chuẩn chi kinh phí hoạt động của đoàn ĐBQH và HĐND tinh năm 2002: 1. Hội đồng Nhản dân tỉnh nhất trí phê chuẩn quyết toán thu chi ngân sách địa phươngnăm 2000: - Tổng thu ngân sách địa phương năm 2000 là: 2.302,02 tỷ + Tổng chi ngân sách địa phương năm 2000 là: 1.304,39 tỷ + Số kết dư ngân sách địa phương năm 2000 là: 997,63 tỷ 2. Hội đồng Nhân dân tỉnh phê chuẩn dự toán chi ngân sách hỗ trợ hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội và kinh phí hoạt động của Hội đồng Nhân dân tỉnh năm 2002: + Đoàn Đại biểu Quốc hội:100.000.000 đồng + Hội đồng Nhân dân tỉnh: 956.536.000 đồng E. Tổ chức thực hiện: Giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch cụ thể, tìm các giải pháp đồng bộ, tổ chức triển khai thực hiện tốt Nghị quyết này. Đồng thời chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan giải quyết sớm các kiến nghị của cử tri đặt ra trước kỳ họp này. Giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh tăng cường công tác giám sát, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình thực hiện Nghị quyết. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị, xã hội tỉnh làm tốt vai trò giám sát và vận động mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia cùng chính quyền các cấp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2002. Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu khóa III kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng 01 năm 2002./.