THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam Thực hiện Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (sau đây viết tắt là Ngân hàng Phát triển), Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể như sau: I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Thông tư này áp dụng đối với hoạt động quản lý tài chính của hệ thống Ngân hàng Phát triển. 2. Ngân hàng Phát triển được Nhà nước cấp vốn điều lệ, vốn thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và các mục tiêu, chương trình của Chính phủ; được huy động các nguồn vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. 3. Khi thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Ngân hàng Phát triển được Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý. 4. Ngân hàng Phát triển được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán; có trách nhiệm bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí; được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước đối với hoạt động tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước , các hoạt động khác phải nộp thuế theo quy định của pháp luật. 5. Ngân hàng Phát triển hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. 6. Ngân hàng Phát triển là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống; được sử dụng các khoản thu nhập để trang trải các chi phí trong quá trình hoạt động; phân phối chênh lệch thu chi tài chính theo hướng dẫn tại Thông tư này. 7. Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển chịu trách nhiệm trước Pháp luật và các cơ quan quản lý Nhà nước về việc quản lý an toàn, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn vốn và tài sản, chấp hành chế độ tài chính, kế toán, kiểm toán. 8. Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài chính, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chế độ tài chính của Ngân hàng Phát triển. II. QUY ĐỊNH VỀ VỐN, QUỸ VÀ TÀI SẢN 1. Vốn hoạt động của Ngân hàng Phát triển gồm: 1.1. Vốn chủ sở hữu: a) Vốn điều lệ của Ngân hàng Phát triển; b) Chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá; c) Các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển. 1.2. Vốn huy động: a) Phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu của Ngân hàng Phát triển và kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi theo quy định của pháp luật; b) Vay của Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các tổ chức tài chính , tín dụng trong nước; c) Vay các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài. 1.3. Các khoản vốn khác gồm: a) Vốn ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ sau đầu tư; b) Vốn ODA vay trực tiếp và vốn ODA được Bộ Tài chính uỷ quyền thực hiện cho vay lại; c) Nhận tiền gửi uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước; d) Vốn nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua Hợp đồng nhận uỷ thác giữa Ngân hàng Phát triển với các tổ chức uỷ thác; đ) Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước; e) Vốn do ngân sách nhà nước cấp để thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và các mục tiêu, chương trình của Chính phủ. f) Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật. 2. Sử dụng vốn và tài sản: 2.1. Ngân hàng Phát triển được sử dụng vốn hoạt động để: a) Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính phủ; b) Đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản của Ngân hàng Phát triển, mức tối đa bằng 15% vốn điều lệ thực có; c) Cấp phát uỷ thác, cho vay uỷ thác theo yêu cầu của bên uỷ thác. 2.2. Ngân hàng Phát triển được quyền điều chỉnh cơ cấu vốn, tài sản trong phạm vi hệ thống để phục vụ cho hoạt động của Ngân hàng Phát triển. 2.3. Việc điều động vốn, tài sản giữa các đơn vị thuộc, trực thuộc Ngân hàng Phát triển do Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển quyết định. 3. Hàng năm, Ngân hàng Phát triển phải cân đối kế hoạch vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước với nguồn vốn để thực hiện. Thực hiện kế hoạch hoá các nguồn vốn huy động; việc huy động các nguồn vốn với lãi suất thị trường để cho vay phải đảm bảo nguyên tắc chỉ huy động khi đã sử dụng tối đa các nguồn vốn không phải trả lãi hoặc huy động với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường và cân đối với nhu cầu sử dụng vốn, tránh để đọng vốn. 4. Ngân hàng Phát triển có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn vốn, bao gồm: 4.1. Quản lý, sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả, bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí; 4.2. Mua bảo hiểm tài sản và các chế độ bảo hiểm khác liên quan đến vốn, tài sản theo quy định; 4.3. Vốn tạm thời nhàn rỗi được gửi tại các ngân hàng trong nước hoặc Kho bạc Nhà nước; 4.4. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Phát triển được phép mua lại các giấy tờ có giá do Ngân hàng Phát triển phát hành theo quy định của Bộ Tài chính; 4.5. Trích lập Quỹ dự phòng rủi ro theo quy định tại phần III của Thông tư này. 5. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định 5.1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định của Ngân hàng Phát triển được hình thành từ các nguồn: a) Khấu hao tài sản cố định; b) Quỹ đầu tư phát triển; c) Các nguồn hợp pháp khác theo quy định của Nhà nước. 5.2. Toàn bộ công tác xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định của Ngân hàng Phát triển phải thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản, phải tiết kiệm, hiệu quả và đảm bảo: a) Trong phạm vi nguồn vốn được duyệt trong kế hoạch tài chính do Hội đồng quản lý thông qua. b) Giá trị còn lại của tài sản cố định không vượt quá 15% vốn điều lệ thực có. 5.3. Tỷ lệ trích khấu hao tài sản cố định thực hiện theo quy định như đối với doanh nghiệp Nhà nước. 6. Kiểm kê tài sản 6.1. Ngân hàng Phát triển thực hiện kiểm kê tài sản khi khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm; khi thực hiện quyết định chia, tách, sáp nhập, hợp nhất
sau khi xảy ra thiên tai, địch hoạ hoặc vì lý do nào đó gây ra biến động tài sản của Ngân hàng Phát triển hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 6.2. Đối với tài sản thừa, thiếu, cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của những người liên quan và xác định mức bồi thường vật chất theo quy định. 7. Đánh giá lại tài sản 7.1. Ngân hàng Phát triển phải thực hiện đánh giá lại tài sản trong các trường hợp: theo quyết định của Bộ Tài chính; thanh lý, nhượng bán tài sản. 7.2. Việc kiểm kê, đánh giá lại tài sản phải theo đúng các quy định hiện hành đối với doanh nghiệp Nhà nước. Các khoản chênh lệch tăng hoặc giảm do đánh giá lại tài sản được điều chỉnh tăng hoặc giảm các nguồn vốn của Ngân hàng Phát triển theo quy định của Bộ Tài chính. 8. Ngân hàng Phát triển phải tổ chức đối chiếu công nợ phải thu, phải trả khi khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm. 9. Đối với các trường hợp tổn thất về tài sản, Ngân hàng Phát triển phải xác định rõ nguyên nhân và xử lý: 9.1. Nếu tài sản bị tổn thất do lỗi của tập thể và cá nhân thì tập thể, cá nhân gây ra phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 9.2. Nếu tài sản đã mua bảo hiểm thì xử lý theo hợp đồng bảo hiểm. 9.3. Giá trị tổn thất
sau khi đã bù đắp bằng tiền của cá nhân, tập thể, của tổ chức bảo hiểm, nếu thiếu được hạch toán vào chi phí trong kỳ của Ngân hàng Phát triển. 10. Cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản 10.1. Ngân hàng Phát triển được quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố các tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn theo quy định của pháp luật. 10.2. Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho thuê, thế chấp và cầm cố tài sản. 11. Thanh lý, nhượng bán tài sản 11.1. Ngân hàng Phát triển được thanh lý, nhượng bán những tài sản kém, mất phẩm chất, tài sản hư hỏng không có khả năng phục hồi, tài sản lạc hậu kỹ thuật không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả. Hội đồng quản lý Ngân hàng Phát triển quyết định việc thanh lý, nhượng bán trụ sở làm việc và báo cáo Bộ Tài chính. 11.2. Khi thanh lý, nhượng bán tài sản Ngân hàng Phát triển phải định giá tài sản và tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật. 11.3. Các khoản thu hoặc chi phí từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản được hạch toán vào thu nhập hoặc chi phí của Ngân hàng Phát triển. Khoản tiền thu được do nhượng bán tài sản và giá trị còn lại của tài sản nhượng bán, chi phí nhượng bán tài sản được hạch toán vào thu nhập hoặc chi phí của Ngân hàng Phát triển. III. PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH, LẬP QUỸ DỰ PHÒNG RỦI RO 1. Ngân hàng Phát triển thực hiện việc phân loại nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2. Ngân hàng Phát triển được trích lập quỹ dự phòng rủi ro vào chi phí hoạt động nghiệp vụ để bù đắp cho những tổn thất, thiệt hại do nguyên nhân khách quan trong quá trình cho vay các dự án vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, các dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng từ Ngân hàng . 3. Ngân hàng Phát triển thực hiện tạm trích quỹ dự phòng rủi ro với mức trích tối đa bằng 0,5% trên dư nợ bình quân cho vay đầu tư, cho vay tín dụng xuất khẩu, nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng của Ngân hàng Phát triển. Hàng năm, sau khi nhận được Thông báo quyết toán tài chính của Bộ Tài chính, Ngân hàng Phát triển thực hiện rà soát, hạch toán điều chỉnh nếu có chênh lệch. 4. Số dư của quỹ dự phòng rủi ro tại thời điểm Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển có hiệu lực được kết chuyển vào quỹ dự phòng rủi ro. 5. Quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng trong trường hợp xoá nợ gốc cho các dự án (bao gồm cả trường hợp giá bán nợ thấp hơn giá trị nợ gốc) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc xoá nợ gốc, Ngân hàng Phát triển sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp tương ứng với số vốn gốc được xoá. 6. Cuối năm, nếu không sử dụng hết quỹ dự phòng rủi ro, số dư của quỹ được chuyển sang quỹ dự phòng rủi ro năm sau. Trường hợp số dư quỹ dự phòng rủi ro không đủ bù đắp tổn thất phát sinh trong năm, Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển báo cáo Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định biện pháp xử lý. IV. CẤP VỐN HỖ TRỢ SAU ĐẦU TƯ 1. Trước ngày 20/7 hàng năm, Ngân hàng Phát triển lập dự toán cấp vốn hỗ trợ sau đầu tư cho năm kế hoạch gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp trong dự toán chi ngân sách nhà nước trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định. 2.
Căn cứ dự toán chi ngân sách nhà nước được cơ quan có thẩm quyền giao, hàng quý, căn cứ vào tiến độ thực hiện của Ngân hàng Phát triển, Bộ Tài chính cấp vốn hỗ trợ sau đầu tư theo đề nghị của Ngân hàng Phát triển. 3. Ngân hàng Phát triển quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Thông tư hướng dẫn Nghị định số 69/2007/TT-BTC ngày 25/6/2007 của Bộ Tài chính; không sử dụng vốn hỗ trợ sau đầu tư cho các mục đích khác. 4. Kết thúc năm, Ngân hàng Phát triển có trách nhiệm quyết toán với Bộ Tài chính số vốn hỗ trợ sau đầu tư đã nhận và số thực cấp cho các chủ đầu tư và thực hiện điều chỉnh: 4.1. Trường hợp số thực cấp cho các chủ đầu tư được quyết toán cao hơn số Bộ Tài chính đã cấp trong năm thì Bộ Tài chính sẽ cấp bổ sung phần còn thiếu trong phạm vi dự toán được thông báo.
Phần chênh lệch vượt giữa số cấp bù chính thức cả năm và dự toán được thông báo (nếu có) sẽ được bố trí trong dự toán cấp hỗ trợ sau đầu tư năm sau.
Mục V của Thông tư này.
Phần chênh lệch vượt giữa số cấp bù chính thức cả năm và dự toán được thông báo (nếu có) sẽ được bố trí trong dự toán cấp bù năm sau.
Phần chênh lệch vượt giữa số quyết toán và dự toán được thông báo (nếu có) sẽ được bố trí trong dự toán cấp bù năm sau.
Điều 24
Chương III Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển.
Điều 2 Quy chế quản lý đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Số dư của quỹ bổ sung vốn điều lệ tại thời điểm Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển có hiệu lực được kết chuyển vào vốn điều lệ .
IX. CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN THỐNG KÊ VÀ KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
1. Trước ngày 20/7 hàng năm, Ngân hàng Phát triển có trách nhiệm lập và báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư các kế hoạch sau:
1.1. Kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn:
a) Kế hoạch nguồn vốn hàng năm bao gồm:
Vốn điều lệ Ngân sách Nhà nước cấp bổ sung;
Vốn Ngân sách Nhà nước cấp hỗ trợ sau đầu tư; vốn thực hiện các mục tiêu, chương trình của nhà nước.
Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
Vốn thu hồi nợ vay;
Vốn huy động theo từng nguồn;
Vốn khác
b) Kế hoạch sử dụng vốn:
Tổng mức vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo các hình thức hỗ trợ: cho vay đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư và theo cơ cấu ngành, lĩnh vực, vùng; kế hoạch trả nợ các nguồn vốn đã huy động;
Kế hoạch cho vay tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng.
1.2. Kế hoạch cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý.
1.3. Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản: Kèm theo thuyết minh chi tiết về dự kiến xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định và cân đối các nguồn vốn.
1.4. Kế hoạch hỗ trợ sau đầu tư;
1.5. Kế hoạch thu - chi tài chính: Kèm theo thuyết minh chi tiết về các mục thu, chi.
1.6. Kế hoạch lao động, tiền lương.
Các kế hoạch trên là căn cứ để Ngân hàng Phát triển thực hiện và quyết toán tài chính với cơ quan tài chính.
2. Báo cáo định kỳ
2.1. Định kỳ tháng, quý, năm, ngoài các báo cáo theo quy định của Chế độ kế toán và Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày 25/6/2007 của Bộ Tài chính (từ mẫu số 01/BC-VDB đến mẫu số 09/BC-VDB), Ngân hàng Phát triển có trách nhiệm lập và gửi Bộ Tài chính các báo cáo tài chính sau:
a) Báo cáo cấp bù chênh lệch lãi suất (từ mẫu số 10/BC-VDB đến mẫu số 12/BC-VDB);
b) Báo cáo cấp phí quản lý (mẫu số 13/BC-VDB).
2.2. Thời điểm nộp báo cáo được quy định như sau:
a) Báo cáo quý: chậm nhất vào ngày 15 tháng đầu quý sau;
b) Báo cáo năm: chậm nhất vào ngày 30/1 của năm sau;
c) Báo cáo quyết toán: chậm nhất vào ngày 30/6 của năm sau.
3. Ngân hàng Phát triển thực hiện chế độ kiểm toán nội bộ, công khai kết quả hoạt động tài chính hàng năm và chịu trách nhiệm về số liệu đã công bố.
Báo cáo tài chính hàng năm của Ngân hàng Phát triển phải được kiểm toán bắt buộc theo quy định của pháp luật và được Hội đồng quản lý thông qua trước khi báo cáo Bộ Tài chính (báo cáo Bộ Tài chính chậm nhất vào ngày 30/6 của năm sau).
4. Ngân hàng Phát triển chịu sự kiểm tra tài chính của Bộ Tài chính, gồm:
4.1. Kiểm tra báo cáo kế toán và báo cáo quyết toán theo định kỳ hoặc đột xuất.
4.2. Kiểm tra theo từng chuyên đề theo từng yêu cầu của công tác quản lý tài chính.
4.3. Giám sát tài chính và thông qua Quyết toán tài chính hàng năm.
X. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
2. Ngân hàng Phát triển có trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị trực thuộc thực hiện chế độ tài chính theo đúng quy định tại Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển do Thủ tướng Chính phủ ban hành và nội dung hướng dẫn tại Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị Ngân hàng Phát triển phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết./.