QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt ''Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020'' THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001
Căn cứ Pháp lệnh Dự trữ quốc gia ngày 29 tháng 4 năm 2004;
Căn cứ Pháp lệnh Động viên công nghiệp ngày 25 tháng 02 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dự trữ quốc gia;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt ''Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020'', với nội dung chủ yếu sau:
I. Quan điểm và mục tiêu dự trữ quốc gia
1. Quan điểm:
a) Hoạt động dự trữ quốc gia là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có vai trò quan trọng đối với việc phát triển bền vững, bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế - xã hội đất nước khi có những sự cố bất lợi do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, địch họa, thị trường gây ra;
b) Quỹ dự trữ quốc gia được quản lý tập trung, thống nhất dưới sự điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Quỹ dự trữ quốc gia bao gồm hiện vật và tiền;
c) Đầu tư dự trữ quốc gia là yêu cầu khách quan cho sự phát triển bền vững của đất nước. Quỹ dự trữ quốc gia bảo đảm đủ khả năng khắc phục những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế ở mức quốc gia, trong một thời gian nhất định. Tốc độ tăng trung bình của quỹ dự trữ quốc gia phải phù hợp với tăng trưởng nền kinh tế và khả năng cân đối của ngân sách nhà nước. Quỹ dự trữ quốc gia được quản lý, điều hành theo quy định của pháp luật, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm;
d) Quản lý hoạt động dự trữ quốc gia luôn đổi mới và phát triển theo kịp xu thế tiến bộ của khoa học - công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới; là công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
2.
Mục tiêu:
Mục tiêu dự trữ quốc gia là sẵn sàng, chủ động đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác của Nhà nước;
Điều 2
Tổ chức thực hiện
1. Bộ Tài chính:
a) Căn cứ Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước chi cho dự trữ quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
b) Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành quản lý dự trữ quốc gia xây dựng kế hoạch, dự kiến phân bổ vốn tăng dự trữ quốc gia hàng năm cho các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, danh mục hàng dự trữ quốc gia, mức dự trữ quốc gia từng loại hàng trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
c) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý dự trữ quốc gia quy định tại Pháp lệnh Dự trữ quốc gia.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành quản lý dự trữ quốc gia xây dựng kế hoạch, dự kiến phân bổ vốn tăng dự trữ quốc gia hàng năm cho các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, danh mục hàng dự trữ quốc gia, mức dự trữ quốc gia từng loại hàng, vốn đầu tư xây dựng kho, cơ sở hạ tầng cho các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
3. Các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia:
a) Xây dựng quy hoạch kho, cơ sở hạ tầng phục vụ công tác bảo quản hàng dự trữ quốc gia. Hàng năm lập kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước chi cho dự trữ quốc gia gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
b) Rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý dự trữ quốc gia của Bộ, ngành mình để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chính phủ giao.
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, tăng cường kiểm tra, bảo vệ an toàn hàng hoá dự trữ quốc gia và tạo điều kiện cho các đơn vị dự trữ quốc gia trên địa bàn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Điều 3
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 4
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.