NGHỊ QUYẾT Về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2019; mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG KHÓA IX KỲ HỌP THỨ 14
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Xét Tờ trình số 2489/TTr-UBND ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về đề nghị thông qua Nghị quyết về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2019; mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2020; Báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2019, như sau:
1. Về kết quả
Năm 2019, Nghị quyết của HĐND tỉnh Hậu Giang thông qua 19 chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, ước cả năm có 13 chỉ tiêu vượt kế hoạch (KH) là: GRDP bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế, t ổ ng vốn đầu tư toàn xã hội, thu nội địa, c hỉ số giá tiêu dùng , kim ngạch xuất nhập, khẩu số lao động được tạo việc làm, n hóm chỉ tiêu về viễn thông và nhà ở , xã nông thôn mới, t ỷ lệ dân số được cấp nước hợp vệ sinh và nước sạch , tỷ lệ che phủ rừng , t ỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo . Có 05 chỉ tiêu đạt kế hoạch là: d ân số trung bình , y tế, nhóm chỉ tiêu về xử lý chất thải , quốc phòng, an ninh; còn 01 chỉ tiêu gần đạt là tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có chuyển biến và đạt được những kết quả quan trọng là:
a) Tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì đạt 6,5%, đặc biệt khu vực I có mức tăng 2,77% (kế hoạch là 2,5%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá tích cực. Quy mô nền kinh tế được nâng lên trên 33.000 tỷ đồng, tương đương 1,426 tỷ USD (tăng 9,2% so cùng kỳ), GRDP bình quân đầu người đạt 45 triệu đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ (tăng 6,1 triệu đồng/người); đời sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện.
b) Lĩnh vực nông nghiệp được chú trọng theo hướng tiếp tục nhân rộng các mô hình liên kết có hiệu quả, gắn với ứng phó với biến đổi khí hậu. Tái cơ cấu trong nông nghiệp bước đầu đã phát huy hiệu quả, tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiệu quả kém sang các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được các địa phương tập trung thực hiện vượt kế hoạch, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới.
c) Lĩnh vực công nghiệp tăng khá, nhất là công nghiệp chế biến, số lượng doanh nghiệp và quy mô nguồn vốn của doanh nghiệp tăng dần; tỉnh đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, thu ngân sách đạt khá, thương mại, dịch vụ tăng ổn định; đầu tư công tiếp tục được tái cơ cấu theo chiều sâu. Công tác phát triển đô thị có bước chuyển biến tích cực, số lượng dự án đầu tư phát triển đô thị tăng nhanh.
d) Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu được đặc biệt quan tâm và đạt những kết quả tích cực.
đ) Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được các cơ quan, đơn vị thực hiện có hiệu quả, nhất là việc phối hợp giải quyết các vụ việc khiếu kiện đông người, kéo dài, phức tạp. Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội được bảo đảm, số vụ tội phạm và tai nạn giao thông giảm so với cùng kỳ, công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền và đấu tranh phòng, chống tham nhũng được chú trọng.
2. Một số vấn đề tồn tại và khó khăn
a) Tăng trưởng kinh tế chưa đạt theo kế hoạch đề ra là 7,5%. Giá trị sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ tăng trưởng thấp hơn kế hoạch đề ra, chất lượng khu vực dịch vụ chậm được cải thiện; lĩnh vực du lịch nông nghiệp và sinh thái chậm phát triển.
b) Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao còn yếu, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít, nên chưa tạo được môi trường liên kết ổn định giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp còn thấp.
c) Chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Vấn đề vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn còn diễn ra gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
d) Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so yêu cầu phát triển chung, nguồn lao động có tay nghề cao chưa đáp ứng được cho nhu cầu của doanh nghiệp trong tỉnh. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong phục vụ nhiệm vụ cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế.
đ) Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn tỉnh còn thấp, đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn. Tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội ở một số địa bàn còn phức tạp.
Điều 2
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất với mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2020 với những nội dung như sau:
1.
Mục tiêu
Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long và Cụm liên kết hợp tác phát triển du lịch phía Tây đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng
Chương trình phát triển du lịch nông nghiệp và du lịch cộng đồng, nhân rộng các mô hình hiện có.
Điều 3
Hội đồng nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Nghị quyết theo quy định.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang Khóa IX Kỳ họp thứ 14 thông qua ngày 06 tháng 12 năm 2019 và có hiệu lực từ ngày 16 tháng 12 năm 2019./.