NGHỊ QUYẾT Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC KHÓA IX, KỲ HỌP THỨ MƯỜI BỐN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 21 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Xét Báo cáo số 369/BC-UBND ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Báo cáo thẩm tra số 77/BC-HĐND-KTNS ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Ban kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất đánh giá tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và đề ra kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 với các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu trong báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong đó, nhấn mạnh một số nội dung chủ yếu như sau:
1. Về tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020
Thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2016 - 2020, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Với phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả” và tinh thần vượt khó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo quyết liệt, tập trung thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, trong đó chú trọng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tập trung tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp, đẩy mạnh phát triển các hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉ đạo quyết liệt công tác thu ngân sách và công tác cải cách thủ tục hành chính; thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm nghèo và đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; cùng với sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn hệ thống chính trị, sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, nên tình hình kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 của tỉnh đã đạt được những thành tựu rất quan trọng và khá toàn diện trên các mặt, có sự bứt phá mạnh mẽ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa X nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Kết quả, 16/18 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra, trong đó tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 7,25% (tăng 0,15 điểm % so với giai đoạn 2011 - 2015); cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 21,9%; ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 40,5%; ngành dịch vụ chiếm 37,6%; quy mô nền kinh tế đạt 68.000 tỷ đồng (bằng 1,64 lần so với năm 2015); GRDP bình quân đầu người ước đạt 67,3 triệu đồng (tương đương 3.000 USD) cao hơn mức bình quân chung của cả nước (2.750 USD), bằng 1,54 lần so với năm 2015; thu ngân sách tăng cao, ước năm 2020 đạt 10.700 tỷ đồng, vượt hơn gấp đôi chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 4.850 tỷ đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số hạn chế, yếu kém đó là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,25%, không đạt mục tiêu của kế hoạch là tăng 7,5%. Quy mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ so với các tỉnh trong vùng;
Ngành nông nghiệp chưa chuyển mạnh sang sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch bệnh và giá cả thị trường không ổn định, nên ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của người nông dân;
Công nghiệp còn phổ biến là chế biến xuất khẩu nguyên liệu và gia công, tiêu hao nhiều lao động trực tiếp, chậm đổi mới, ứng dụng, công nghệ tiên tiến;
Ngành du lịch tuy phát triển nhưng chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh sẵn có; công tác xúc tiến, quảng bá, liên kết hợp tác phát triển du lịch còn hạn chế;
Môi trường đầu tư kinh doanh tuy cải thiện nhưng chưa thật sự thông thoáng, thiếu hấp dẫn; giải quyết thủ tục hành chính, nhất là thủ tục liên quan đến đất đai trong một số trường hợp còn gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Chỉ số PCI của tỉnh đứng rất thấp;
Một số trường ở bậc mầm non còn thiếu nhiều phòng học cho trẻ ra lớp ở các độ tuổi. Chất lượng dạy, học ở không ít cơ sở giáo dục chưa cao; công tác xã hội hóa đầu tư vào giáo dục chủ yếu chỉ đầu tư ở các cơ sở giáo dục mầm non; đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu các khu công nghiệp;
Các thiết chế văn hóa - thể thao chưa đồng bộ, đầu tư thiếu thiết thực, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và thụ hưởng của người dân; văn hóa khu dân cư và gia đình văn hóa còn hình thức, một số trường hợp không thực chất;
Việc thu hút bác sỹ còn hạn chế, thiếu giải pháp khuyến khích bác sỹ làm việc tại cơ sở y tế công lập;
Nguồn nhân lực còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực quản lý còn thiếu chưa đáp ứng yêu cầu cho các doanh nghiệp FDI;
Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và tai nạn giao thông đã được kiềm chế nhưng chưa bền vững; hoạt động của tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy, tình hình cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự diễn biến khá phức tạp;
Tình trạng khiếu kiện kéo dài của người dân liên quan đến đất đai chưa được giải quyết triệt để.
2. Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025
a)
Mục tiêu tổng quát
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Thực hiện có hiệu quả Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.
Điều 2
Giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện; giao Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước khóa IX, kỳ họp thứ mười bốn thông qua ngày 08 tháng 12 năm 2020 và có hiệu lực từ ngày 21 tháng 12 năm 2020./.