THÔNG TƯ Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần Để giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là Thông tư số 126/2004/TT-BTC) và hướng dẫn thực hiện
Điều 6 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 126/2004/TT-BTC như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung điểm 2.2
Mục B
Phần II Thông tư số 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục B
Phần II Thông tư số 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục A phần III Thông tư số 126/2004/TT-BTC như sau:
Điều 19 Nghị định 187/2004/NĐ-CP, trong đó:
6.1. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức thuê đất:
a) Nếu đang thuê thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp; công ty cổ phần tiếp tục ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật và quản lý sử dụng đúng mục đích, không được nhượng bán.
b) Nếu đất đã nhận giao và đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, đất doanh nghiệp đã mua quyền sử dụng của các cá nhân, pháp nhân khác nay chuyển sang thuê đất thì chỉ tính vào giá trị doanh nghiệp các khoản chi phí làm tăng giá trị sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất như: chi phí đền bù, giải toả, san lấp mặt bằng.
Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục chuyển từ hình thức giao đất sang hình thức thuê đất trước thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần.
6.2. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính giá trị doanh nghiệp được thực hiện như sau:
a) Đối với diện tích đất doanh nghiệp đang thuê chuyển sang hình thức giao đất: Sau khi có quyết định cổ phần hoá, đồng thời với việc tiến hành kiểm kê, phân loại, đánh giá lại tài sản, doanh nghiệp phải căn cứ vào quy định tại
Điều 6 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ xác định giá trị quyền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước tại thời điểm thực hiện định giá và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp có diện tích đất nhận giao xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 30 ngày (kể từ ngày nhận được báo cáo của doanh nghiệp), Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giá đất cụ thể và thông báo cho doanh nghiệp. Sau thời hạn trên nếu Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố không có ý kiến thì coi như đồng ý với phương án xác định giá đất của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá không thống nhất với giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xác định lại thì tiếp tục thực hiện thuê đất để thực hiện cổ phần hoá.
Giá trị quyền sử dụng đất xác định theo nguyên tắc trên được tính vào giá trị doanh nghiệp nhưng không tính tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước.
Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
b) Trường hợp doanh nghiệp được giao đất xây dựng nhà, hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê và đã nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách Nhà nước:
Phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm thực hiện định giá nhưng không thấp hơn chi phí thực tế về quyền sử dụng đất đang hạch toán trên sổ kế toán. Nếu giá trị quyền sử dụng đất xác định lại cao hơn chi phí thực tế về quyền sử dụng đất đang hạch toán trên sổ kế toán thì khoản chênh lệch tăng tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nếu giá trị vốn nhà nước (bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất) quá lớn, vượt quá quy mô vốn điều lệ của doanh nghiệp cổ phần hoá theo phương án được duyệt thì phần chênh lệch được coi như một khoản thu từ cổ phần hoá và được xử lý theo quy định tại điểm 1.3 mục VI Thông tư số 126/2004/TT-BTC.
c) Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá được giao đất xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê có sử dụng một phần diện tích đất làm các công trình phúc lợi công cộng, bàn giao cho địa phương quản lý sử dụng thì giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá được xác định như sau:
Nếu bàn giao theo phương thức có thanh toán thì chỉ xác định lại giá trị quyền sử dụng đất đối với những diện tích đất doanh nghiệp được giao để kinh doanh nhà và hạ tầng để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá.
Nếu bàn giao theo phương thức không thanh toán thì tính vào giá trị doanh nghiệp toàn bộ giá trị quyền sử dụng diện tích đất được giao sau khi trừ đi chi phí để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng đã bàn giao.
d) Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá được giao đất xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê và đã thực hiện sự điều tiết quỹ nhà, đất theo cơ chế do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định thì giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá trị doanh nghiệp được xác định trên cơ sở giá trị quyền sử dụng đất xác định lại trừ khoản thu nhập bị điều tiết.
đ) Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá được giao đất xây dựng nhà, hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê có thực hiện chuyển giao một phần diện tích nhà cao tầng cho cơ quan khác làm trụ sở hoặc kinh doanh thì phải tiến hành phân bổ giá trị quyền sử dụng đất được xác định lại cho diện tích nhà bàn giao theo hệ số các tầng hoặc giá bán nhà của từng tầng. Hệ số do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định phù hợp với quy định hiện hành của Nhà nước.
e) Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá được giao đất xây dựng nhà ở để bán đã tiến hành bán nhà thì được loại trừ không đánh giá lại đối với diện tích nhà đã bán tương ứng với số tiền thu bán nhà đã hạch toán vào thu nhập, xác định kết quả kinh doanh hàng năm và nộp thuế theo đúng quy định của nhà nước."
4 . Sửa đổi, bổ sung điểm 1.2
Mục A
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Điều 26 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP do cơ quan quyết định cổ phần hoá phê duyệt. Người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá, các pháp nhân trong cùng Tổng công ty không được xác định là nhà đầu tư chiến lược."
5. Bổ sung thêm điểm 1.4 vào
Mục A
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục A
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục A
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục A
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục B
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục B
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục B
Phần V Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục B
Phần V Thông tư số 126/2004/TT-BTC như sau:
Phần VI Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau:
Mục VIII Thông tư 126/2004/TT-BTC như sau: