QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng chì, kẽm giai đoạn 2006 - 2015, có
xét đến năm 2020 THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Khoáng sản ngày 20 tháng 3 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản ngày 14 tháng 6 năm 2005.
Xét đề nghị của Bộ Công nghiệp tại các văn bản số 4683/TTr-BCN ngày 31 tháng 8 năm 2005; số 1712/BCN-KH ngày 30 tháng 3 năm 2006 và ý kiến của các Bộ, cơ quan liên quan, QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1
Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng chì, kẽm giai đoạn 2006 - 2015, có xét đến năm 2020, với những nội dung chủ yếu sau đây:
1. Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển
a) Quan điểm phát triển
Phát triển bền vững ngành công nghiệp khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm trên cơ sở khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên chì, kẽm của đất nước.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Việt Nam, Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo hài hòa lợi ích quốc gia và của địa phương có khoáng sản chì, kẽm.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm trên tinh thần tự lực, tự cường và chủ động hội nhập quốc tế.
Phát triển hợp lý và hài hòa các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm. Công tác thăm dò phải đi trước một bước, phải tạo được nguồn quặng chì, kẽm dự trữ chiến lược cho khai thác, chế biến. Các cơ sở chế biến phải gắn với nguồn tài nguyên đủ lớn và tin cậy về trữ lượng, chất lượng, phải sử dụng tổng hợp, triệt để các nguồn và loại quặng trong nước.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm phải phù hợp với yêu cầu củng cố an ninh quốc phòng, bảo vệ các di sản thiên nhiên, di tích lịch sử và các công trình văn hoá có giá trị, bảo vệ môi trường sinh thái tại các địa bàn có tài nguyên chì, kẽm.
b) Định hướng phát triển
Xây dựng ngành khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm trở thành ngành công nghiệp phát triển ổn định và bền vững. Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu cơ bản để phát triển, tạo nhiều việc làm ở các vùng, địa bàn kém phát triển.
Phát huy tối đa nguồn lực trong nước về vốn, khoa học công nghệ và cơ sở vật chất, sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ nước ngoài.
Công tác thăm dò được ưu tiên cho các điểm quặng có triển vọng khai thác quy mô công nghiệp và phù hợp với tiến độ đưa các mỏ vào khai thác.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng và luyện chì, kẽm theo hướng vừa đáp ứng nhu cầu trước mắt vừa tính đến chiến lược lâu dài: kết hợp quy mô vừa và nhỏ, cơ giới hóa với bán cơ giới, từng bước hiện đại hoá công nghệ khai thác và chế biến quặng, nhập công nghệ luyện chì, kẽm tiên tiến nhằm tối đa hóa hệ số thu hồi chì, kẽm, kim loại đi kèm và phụ phẩm.
Tạo lập thị trường quặng và kim loại chì, kẽm trong nước cạnh tranh bình đẳng, liên kết chặt chẽ với thị trường quặng và kim loại chì, kẽm thế giới.
c)
Mục tiêu
Điều 2
Tổ chức thực hiện
1. Bộ Công nghiệp
Có trách nhiệm chủ trì, tổ chức thực hiện Quy hoạch này, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo việc thực hiện các nội dung Quy hoạch theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Xây dựng và ban hành quy phạm khai thác hầm lò quặng kim loại.
Chỉ đạo Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ xử lý (làm giàu) quặng ôxít chì, quặng barít chì, kẽm (các đề tài R&D); mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ tuyển và luyện chì, kẽm.
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng chính sách tài nguyên khoáng sản quốc gia.
Kiện toàn công tác thanh tra chuyên ngành khoáng sản.
Thực hiện đổi mới công tác quản trị tài nguyên khoáng sản nói chung, chỉ đạo Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, xây dựng và triển khai hệ thống quản trị khoáng sản chì, kẽm trong giai đoạn 2006 - 2010. Nghiên cứu xây dựng quy trình thăm dò tối ưu các điểm quặng, thân quặng có quy mô trữ lượng cấp C2 và tài nguyên cấp P1 nhỏ hơn 10.000 tấn kim loại chì, kẽm. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phân cấp trữ lượng và quy mô mỏ quặng chì, kẽm. Rà soát và chuẩn hóa chức năng nhiệm vụ của các liên đoàn, đơn vị địa chất.
Cải cách thủ tục hành chính trong cấp phép hoạt động khoáng sản theo hướng bình đẳng, thông thoáng, thuận tiện hơn.
Thực hiện thí điểm đấu thầu quyền khai thác các mỏ, điểm quặng chì, kẽm trong vùng quặng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang sau khi hoàn thành công tác thăm dò vùng quặng này.
3. Bộ Tài chính
Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành chính sách đảm bảo quyền lợi của các địa phương trong bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác; quy chế và thành lập quỹ bảo hiểm rủi ro hoạt động khoáng sản; thông tư hướng dẫn xây dựng giá bán tính thuế tài nguyên khoáng sản.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chủ trì, phối hợp với Bộ Công nghiệp và Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy chế đấu thầu quyền thăm dò và khai thác mỏ.
5. ñy ban nhân dân các tỉnh
Lập quy hoạch khoáng sản trên địa bàn phù hợp với quy hoạch khoáng sản của cả nước; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch tài nguyên quặng chì, kẽm trên địa bàn.
Tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên quặng chì, kẽm; kiểm tra, thanh tra các cơ sở hoạt động khoáng sản; chấn chỉnh trật tự khai thác, chế biến và mua bán khoáng sản trên địa bàn.
Điều 3
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 4
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh có tài nguyên quặng chì, kẽm chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.