THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng tiền chuyển quyền sử dụng đất, tiền bán nhà xưởng và các công trình khác khi tổ chức kinh tế phải di dời trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy hoạch
Căn cứ Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng tiền chuyển quyền sử dụng đất, tiền bán nhà xưởng và các công trình khác khi tổ chức kinh tế phải di dời trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy hoạch; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau: I. Phạm vi, đối tượng thực hiện: 1. Thông tư này hướng dẫn việc sử dụng số tiền thu được khi chuyển quyền sử dụng đất, tiền bán nhà xưởng và các công trình xây dựng khác khi tổ chức kinh tế (công ty nhà nước, các doanh nghiệp khác hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác) có trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh phải di dời theo quy hoạch do ô nhiễm môi trường theo quyết định hoặc thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. 2. Tổ chức kinh tế phải di dời trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh mà không phải theo quy hoạch do ô nhiễm môi trường; các đơn vị không phải là tổ chức kinh tế phải di dời trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh do ô nhiễm môi trường thì không thuộc đối tượng áp dụng tại Thông tư này. II. Xử lý tài chính về đất quy định tại
Điều 2 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; một số khoản tại Điều này được hướng dẫn cụ thể như sau:
1. Điểm a khoản 1 quy định về đất đang sử dụng thuộc quy hoạch xây dựng các công trình quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, các dự án đầu tư theo quy định tại
Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; trường hợp đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc đất đang sử dụng có nguồn gốc hợp pháp (đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất) quy định tại điểm a khoản 1
Điều 2 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khi bị thu hồi đất thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Trường hợp tổ chức kinh tế đang thuê đất và trả tiền thuê đất cho Nhà nước, nhưng đất đang sử dụng có nguồn gốc là đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc đất đang sử dụng có nguồn gốc hợp pháp (đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất) khi bị thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
Trường hợp đất đang sử dụng có nguồn gốc là đất nông nghiệp (nhận chuyển nhượng; sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân...) thì tiền bồi thường cho tổ chức kinh tế được xác định bằng diện tích đất nhân với giá đất nông nghiệp tại thời điểm bồi thường đất; phần chênh lệch còn lại (chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp với giá đất nông nghiệp) được xử lý theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 2 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
2. Điểm a khoản 2 quy định về đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc đất đang sử dụng có nguồn gốc hợp pháp (đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất) khi chuyển quyền sử dụng đất thì được sử dụng số tiền này theo quy định tại
Điều 7 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Trường hợp đang thuê đất và trả tiền thuê đất cho Nhà nước, nhưng đất đang sử dụng có nguồn gốc là đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc đất đang sử dụng có nguồn gốc hợp pháp (đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất) thì khi chuyển quyền sử dụng đất đơn vị cũng được sử dụng số tiền này theo quy định tại
Điều 7 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
3. Khoản 3 quy định về tổ chức kinh tế được chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch để xây dựng các công trình dân dụng chỉ áp dụng đối với tổ chức kinh tế của Nhà nước có chức năng kinh doanh xây dựng công trình dân dụng (bao gồm nhà ở, nhà cao tầng, các công trình khác dùng để kinh doanh), có đủ năng lực để thực hiện và các điều kiện cụ thể khác do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định (riêng thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương đang thực hiện hoặc được Thủ tướng Chính phủ cho phép vận dụng thực hiện theo Quyết định số 80/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý sắp xếp lại nhà đất thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì được tiếp tục thực hiện theo các quy định tại Quyết định số 80/2001/QĐ-TTg).
Số tiền thu được từ chuyển mục đích sử dụng đất của tổ chức kinh tế được xử lý như đối với trường hợp chuyển quyền sử dụng đất quy định tại khoản 2
Điều 2 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại khoản 2
Mục này.
Điều 2 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, căn cứ vào thực tế ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ chung trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương làm căn cứ cho Sở Tài chính xác định mức tiền hỗ trợ cụ thể cho từng trường hợp.
III. Trình tự, thủ tục thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất, bán nhà xưởng và các công trình khác, chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại
Điều 4 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được hướng dẫn cụ thể như sau:
Tổ chức kinh tế có trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh phải di dời, căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành; căn cứ vào quyết định (thông báo) phải di dời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
1. Liên hệ với các cơ quan chức năng của địa phương tìm địa điểm mới để thực hiện di chuyển trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy hoạch và quy định về di dời của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Có văn bản đề nghị với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Quy hoạch - Kiến trúc (Sở Xây dựng) của địa phương để xác định quy hoạch sử dụng đất của khu đất mà tổ chức đang sử dụng phải di dời.
Sau khi nhận được văn bản đề nghị của tổ chức kinh tế, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Quy hoạch - Kiến trúc (Sở Xây dựng) phải có ý kiến bằng văn bản về quy hoạch sử dụng đối với khuôn viên đất của tổ chức kinh tế có trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh phải di dời.
3. Lập kế hoạch, phương án di dời, phương án xử lý cơ sở nhà đất phải di dời: căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức kinh tế có văn bản đề nghị kèm theo phương án xử lý cơ sở nhà đất đang sử dụng phải di dời: bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác, chuyển quyền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng nhằm mục đích kinh doanh nếu có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 3
Mục II Thông tư này.
Điều 5 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; một số khoản tại Điều này được hướng dẫn cụ thể như sau:
1. Khoản 1 quy định việc bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác gắn liền với đất, chuyển quyền sử dụng đất của công ty nhà nước (tổ chức kinh tế nhà nước) do đại diện chủ sở hữu quyết định theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước như sau:
a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các đoàn thể, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập quyết định việc bán nhà xưởng, công trình xây dựng gắn liền với đất, chuyển quyền sử dụng đất của công ty nhà nước (tổ chức kinh tế nhà nước) thuộc cấp mình quản lý sau khi có ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định bán nhà, xưởng, công trình xây dựng gắn liền với đất, chuyển quyền sử dụng đất của công ty nhà nước (tổ chức kinh tế nhà nước) thuộc địa phương quản lý.
2. Khoản 2 về bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác gắn liền với đất, chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế không phải là tổ chức kinh tế của nhà nước được thực hiện như sau:
a) Tổ chức kinh tế đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền đó không thuộc nguồn vốn của Ngân sách nhà nước hoặc đất đang sử dụng có nguồn gốc hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân (khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất) thì tổ chức kinh tế tự quyết định việc chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, bán nhà xưởng và công trình xây dựng khác theo quy định của pháp luật.
b) Đối với tổ chức kinh tế sử dụng đất được Nhà nước cho thuê, đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn nộp tiền sử dụng đất, các trường hợp khác không thuộc khoản 1, điểm a khoản 2
Mục này, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Chủ tịch Uỷ ban nhân nhân cấp tỉnh quyết định. Trường hợp có nhà xưởng, công trình xây dựng khác là tài sản của tổ chức kinh tế xây dựng trên đất thì Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét xử lý theo một trong hai hình thức sau:
Điều 6 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được hướng dẫn cụ thể như sau:
1. Điểm a khoản 1 về bán đấu giá: công ty nhà nước khi di dời đến địa điểm mới phải thực hiện bán đấu giá nhà xưởng, công trình xây dựng khác, đấu giá quyền sử dụng đất đối với cơ sở đang sử dụng phải di dời; việc xác định giá khởi điểm nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá khởi điểm quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, đấu giá quyền sử dụng đất. Người có thẩm quyền phê duyệt kết quả bán đấu giá là người có thẩm quyền quyết định bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác, chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1
Mục IV Thông tư này.
Điều 7 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được hướng dẫn cụ thể như sau:
1. Căn cứ vào số tiền thu được từ bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tiền bồi thường, hỗ trợ đất, tiền bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất, tổ chức kinh tế có trách nhiệm xác định rõ phần giá trị quyền sử dụng đất, phần giá trị nhà xưởng, công trình xây dựng khác trong tổng số số tiền thu được báo cáo Bộ, ngành chủ quản, tổng công ty nhà nước, đồng gửi Bộ Tài chính (Sở Tài chính). Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản trên đất phải trên cơ sở cơ cấu giá trị (tỷ lệ %) của mỗi loại tài sản đã được xác định trong tổng giá trị của cơ sở nhà đất theo quyết định (phê duyệt) của cơ quan có thẩm quyền quy định tại mục IV Thông tư này; trong trường hợp cơ sở nhà đất thuộc diện Nhà nước thu hồi thì tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất, bồi thường tài sản, hỗ trợ tài sản theo phương án bồi thường hỗ trợ được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong báo cáo gửi Bộ, ngành chủ quản, tổng công ty nhà nước đồng gửi Bộ Tài chính phải xác định:
Phần tiền sử dụng đất, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tiền bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác, bồi thường đất, bồi thường tài sản,... thuộc vốn của tổ chức kinh tế.
Phần tiền sử dụng đất, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tiền bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác, tiền hỗ trợ đất, hỗ trợ tài sản thuộc vốn của ngân sách nhà nước.
Phần tiền thu được thuộc vốn của tổ chức kinh tế theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 2, điểm a khoản 2
Điều 2, điểm a khoản 1
Điều 3 và chi phí di dời quy định tại điểm a khoản 1
Điều 7 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể gồm:
Chi phí đã đầu tư vào đất bằng nguồn vốn mà Nhà nước đã giao cho tổ chức nhưng chưa thu hồi được (nếu có); chi phí đã đầu tư vào đất bằng tiền không thuộc vốn ngân sách nhà nước;
Giá trị của tài sản, tiền sử dụng đất, tiền chuyển quyền sử dụng đất, tiền chuyển mục đích sử dụng đất, tiền bồi thường hỗ trợ đối với tổ chức kinh tế đã được Nhà nước giao vốn hoặc do tổ chức kinh tế tạo lập bằng tiền không thuộc nguồn vốn của ngân sách nhà nước;
Chi phí di dời thực tế không vượt quá định mức được duyệt; trường hợp không có định mức thì theo thực tế tại thị trường địa phương;
Chi phí liên quan đến việc bán nhà xưởng, công trình xây dựng khác, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gồm: chi phí đo vẽ nhà đất, chi phí bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất (chi phí định giá, thẩm định giá, chi phí tổ chức bán đấu giá và các chi phí khác có liên quan).
b)
Phần tiền công ty nhà nước, tổ chức kinh tế của Nhà nước được hỗ trợ, được sử dụng quy định tại điểm b khoản 1, điểm b khoản 2, khoản 3
Điều 2, điểm b khoản 1
Điều 3 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg, đây là vốn của ngân sách đầu tư cho tổ chức kinh tế của nhà nước; phần tiền hỗ trợ cho tổ chức kinh tế không phải của nhà nước quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2
Điều 2 Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
c)
Phần tiền còn lại (nếu có) được nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.
Mục VI Thông tư này; số tiền còn lại là vốn của ngân sách nhà nước đầu tư, hỗ trợ cho tổ chức kinh tế phải nộp toàn bộ vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc nhà nước cấp tỉnh do đại diện chủ sở hữu (Bộ, ngành chủ quản, Tổng công ty nhà nước) làm chủ tài khoản đối với tổ chức kinh tế nhà nước thuộc Trung ương quản lý; Sở Tài chính làm chủ tài khoản (đối với các tổ chức kinh tế còn lại) và được theo dõi chi tiết tới từng tổ chức kinh tế phải di dời.
Mục lục ngân sách nhà nước:
Mục 067 (mục bán tài sản), tiểu mục tương ứng.
Chương của Bộ, cơ quan Trung ương được cấp vốn; đối với tổ chức kinh tế địa phương do địa phương quản lý thì hạch toán
Chương của Sở, ban, ngành,... tương ứng.
Chương B (ngân sách tỉnh, thành phố) tương ứng với
Chương của Bộ, cơ quan Trung ương; nếu cấp
Chương B không có
Chương tương ứng thì hạch toán vào
Chương 150B.
Phần cấp vốn cho tổ chức kinh tế do Trung ương quản lý, ngân sách Trung ương ghi thu, điều tiết 100% cho ngân sách Trung ương hưởng.
Phần cấp vốn cho tổ chức kinh tế do địa phương quản lý, ngân sách địa phương ghi thu, điều tiết 100% cho ngân sách địa phương hưởng.
Phần nộp ngân sách, thì điều tiết 100% cho ngân sách địa phương hưởng.