THÔNG TƯ Hướng dẫn về thuế gía trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực chứng khoán
Căn cứ Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10 tháng 5 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế gía trị gia tăng số 07/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 và các văn bản hướng dẫn
Căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi số 09/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 và các văn bản hướng dẫn;
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01/07/2003 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau: I. Đối tượng điều chỉnh: Tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại Thông tư này bao gồm: Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng lưu ký; Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư chứng khoán tại Việt Nam; Quỹ đầu tư chứng khoán; II. Về thuế giá trị gia tăng: 1 . Các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng, bao gồm: Môi giới chứng khoán; Tự doanh chứng khoán; Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán; Bảo lãnh và đại lý phát hành chứng khoán; Tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán do công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán; Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; Giám sát Quỹ đầu tư chứng khoán; Lưu ký chứng khoán; Đại diện người sở hữu trái phiếu; Các hoạt động đầu tư của Quỹ đầu tư chứng khoán. 2. Tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán không chịu thuế giá trị gia tăng nêu tại điểm 1,
Mục II Thông tư này không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho hoạt động không chịu thuế giá trị gia tăng.
Phần lợi tức được chia đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp ở khâu trước và lãi trái phiếu thu được từ các loại trái phiếu thuộc diện miễn thuế theo quy định của pháp luật của các tổ chức này không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Mục IV Thông tư này.
Mục IV Thông tư này.
Mục III, Thông tư này.
Mục IV Thông tư này. Riêng tổ chức đầu tư nêu tại tiết 2.1, điểm 2,
Mục III Thông tư này được lựa chọn phương thức tự nộp thuế bằng cách gộp chung với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của tổ chức đó để tính và nộp thuế theo quy định của Luật thuế TNDN hiện hành; tổ chức đầu tư có trách nhiệm thông báo cho Công ty quản lý Quỹ ĐTCK về việc tự nộp thuế để không bị khấu trừ phần thuế tương ứng.