THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước
Căn cứ Nghị định số 124/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2004 của Chính phủ về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01/7/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh như sau: A- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG: 1. Thông tư này hướng dẫn các quy định về cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh (dưới đây gọi tắt là Thành phố), bao gồm: cơ chế về quản lý ngân sách và cơ chế về huy động các nguồn tài chính cho đầu tư phát triển Thành phố. 2. Ngoài các cơ chế tài chính ngân sách đặc thù quy định tại Nghị định số 124/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2004 của Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư này, Thành phố thực hiện các quy định chung về quản lý tài chính ngân sách quy định tại Luật ngân sách nhà nước, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ, Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23 tháng 6 năm 2003 của Bộ Tài chính và các văn bản pháp luật khác về tài chính ngân sách. B. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ: I. VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THÀNH PHỐ 1. Về phân cấp nguồn thu:
Căn cứ quy định về phân cấp nguồn thu cho các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương được quy định tại
Điều 32 Luật ngân sách nhà nước,
Điều 22 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định phân cấp cụ thể các nguồn thu ngân sách cho các cấp thuộc Thành phố (thành phố, quận, huyện, phường, xã) cho phù hợp tình hình thực tế, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội của Thành phố. Riêng đối với ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% các khoản thu về: thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà, đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất.
2. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu được phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố do Chính phủ trình Uỷ ban Thưường vụ Quốc hội quyết định; thời gian ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia này do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
3. Phân cấp nhiệm vụ chi:
Căn cứ nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương được quy định tại
Điều 33 Luật ngân sách nhà nước,
Điều 24 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ, việc phân cấp cụ thể nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp thuộc Thành phố do Uỷ ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định trên nguyên tắc đảm bảo phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng và trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, bảo đảm hiệu quả.
4. Hàng năm, căn cứ vào dự toán ngân sách Thành phố được Thủ tướng Chính phủ giao và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân quyết định: Dự toán thu, chi ngân sách Thành phố; nhiệm vụ thu, chi cho từng cơ quan đơn vị thuộc ngân sách cấp thành phố; số bổ sung từ ngân sách Thành phố cho ngân sách cấp dưới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và bảo đảm thực hiện theo định hướng chung của ngân sách nhà nước.
5. Để sử dụng có hiệu quả quỹ đất do Thành phố quản lý, Uỷ ban nhân dân Thành phố đưược tạm ứng từ nguồn ngân sách Thành phố hoặc từ nguồn huy động theo quy định tại tiết 1.2
Mục 1
Phần III thông tư này cho các dự án xây dựng hạ tầng thuộc nhiệm vụ đầu tư của ngân sách Thành phố để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, sau khi thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất sẽ thu hồi hoàn trả ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vốn huy động. Việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo những quy định sau:
MỤC TIÊU TỪ NGUỒN THU VƯỢT DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG PHÁT SINH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ:
Điều 30 Luật ngân sách nhà nưước, ngân sách Thành phố đưược ngân sách trung ương thưởng 30% của số tăng thu này, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước. Phương pháp xác định, mục đích sử dụng và hạch toán ngân sách đối với số tiền thưởng này thực hiện theo quy định tại
Mục 17
Phần IV thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 của Bộ Tài chính.
Mục 1
Phần II của Thông tư này) và tương ứng 30% số tăng thu so với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao của các khoản thu ngân sách trung ưương hưởng 100%, trừ các khoản thu quy định tại tiết 2.2
Mục 2
Phần II của Thông tư này.
Điều 20, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ, không bao gồm:
Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;
Các khoản thu không giao Thành phố quản lý thu, không phát sinh trên địa bàn Thành phố mà chỉ hạch toán nộp ở Thành phố;
Các khoản ghi thu, ghi chi theo quy định của pháp luật; các khoản thu được để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách theo quy định của pháp luật.
Việc xác định số bổ sung có mục tiêu nêu trên căn cứ kết quả thu của tổng số các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% vượt so dự toán; không tính riêng đối với từng khoản thu.
3. Căn cứ quy định tại
Mục 1 và
Mục 2
Phần II của Thông tư này, hàng năm sau khi kết thúc năm ngân sách, Uỷ ban nhân dân Thành phố báo cáo gửi Bộ Tài chính về kết quả thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố các khoản thu liên quan đến việc thưởng và bổ sung có mục tiêu cho Thành phố trước ngày 31 tháng 01 năm sau để tổng hợp báo cáo Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Mục 1 và
Mục 2
Phần II của Thông tư này, Uỷ ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định sử dụng để đầu tưưưư các công trình kết cấu hạ tầng, hoàn trả các khoản huy động, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Thành phố và thưởng cho ngân sách cấp dưưới theo chế độ quy định.
Mục 1
Phần II Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính.
Mục 1
Phần III của Thông tư này không được vượt quá 100% tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Thành phố theo dự toán Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định của năm ngân sách hiện hành (không bao gồm nguồn vốn đầu tư từ nguồn vốn huy động và vốn đầu tư các dự án từ nguồn bổ sung có mục tiêu không ổn định từ ngân sách trung ương cho ngân sách Thành phố - nếu có).
Mục 1
Phần II của Thông tư này phải thực hiện theo quy định tại
Điều 6 Nghị định 124/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ.
4. Các nguồn vốn huy động nêu trên được hạch toán thu ngân sách cấp Thành phố để chi cho mục tiêu đã định và phải bố trí trong cân đối ngân sách cấp Thành phố để chủ động trả nợ khi đến hạn.
5. Huy động nguồn vốn đầu tư cho các dự án có khả năng thu hồi vốn:
Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và điều kiện thực tế về nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Thành phố, đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn, Uỷ ban nhân dân Thành phố quyết định hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật. Việc huy động đầu tư theo các hình thức: BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BT (xây dựng - chuyển giao) và các hình thức khác. Thực hiện các giải pháp tài chính hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư, bù một phần chênh lệch giữa chi phí và giá dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Việc huy động và tổ chức thực hiện đầu tư các dự án : BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BT (xây dựng- chuyển giao) và các hình thức khác được thực hiện theo quy định của pháp luật, Uỷ ban nhân dân Thành phố xây dựng dự toán chi hàng năm về hỗ trợ lãi suất, bù một phần chênh lệch giữa chi phí và giá dịch vụ trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định bố trí trong dự toán ngân sách Thành phố để thực hiện.
C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Căn cứ quy định tại Thông tư này, Uỷ ban nhân dân Thành phố chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện; trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính để xem xét giải quyết.
Ghi chú: Ngày 16/6/2004 Bộ Tài chính ban hành Công văn số 6617 TC/NSNN về việc đính chính Thông tư số 52/2004/TT-BTC ngày 9/6/2004 như sau:
Bỏ tiêu đề điểm 1
Mục I: phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách các cấp chính quyền thuộc Thành phố.