THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 22/2000/NĐ-CP ngày 10/7/2000 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Thi hành
Điều 22 Nghị định số 22/2000/NĐ-CP ngày 10/7/2000 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây viết tắt là Nghị định), Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước hướng dẫn cụ thể một số điểm như sau:
I. ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN TẮC XỬ PHẠT, ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN
1. Đối tượng bị xử phạt
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoản được quy định tại Khoản 3,
Điều 1 - Nghị định bao gồm:
1.1. Tổ chức, cá nhân trong nước khi:
a. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định tại
Chương II Nghị định;
Điều 3, Nghị định.
1.2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài vi phạm theo quy định tại điểm 1.1 nói trên cũng bị xử phạt theo các quy định của Nghị định và Thông tư này, trừ trường hợp các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
2. Nguyên tắc xử phạt
Việc xử phạm vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán phải tuân theo các quy định tại các
Điều 2, 3, 15 và 17 Nghị định và nguyên tắc xử phạt tại
Điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (sau đây viết tắt là Pháp lệnh). Khi áp dụng các nguyên tắc đó cần lưu ý những vấn đề sau:
2.1 Nguyên tắc đúng thẩm quyền:
Chỉ có những người có thẩm quyền quy định tại
Chương III Nghị định, mới được ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, với hình thức và mức phạt trong phạm vi thẩm quyền quy định. Không được phép tách một vi phạm thành nhiều vi phạm nhỏ hoặc gộp nhiều vi phạm nhỏ thành một vi phạm lớn hơn, nhằm mục đích thay đổi thẩm quyền xử phạt.
Điều 70 Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán là hành vi sử dụng các thông tin có liên quan đến giá và khối lượng giao dịch chứng khoán của một tổ chức niêm yết chưa được công bố ra công chúng để trực tiếp hoặc gián tiếp mua, bán chứng khoán.
2.3 Hành vi bán khống chứng khoán của tổ chức, cá nhân được thực hiện dưới hình thức bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán tại thời điểm giao dịch.
2.4 Hành vi mua, bán lại chứng khoán của chính mình khi chưa được phép của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
2.5 Mua bán chứng khoán niêm yết ngoài Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán.
3. Hành vi vi phạm quy định về bảo vệ cổ đông hoặc thâu tóm doanh nghiệp (Điều 6 - Nghị định)
3.1 Hành vi thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp:
a) Tổ chức, cá nhân mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung làm thay đổi việc nắm giữ từ 5% trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết hoặc không còn nắm giữ 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành mà không báo cáo cho Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán, trong thời hạn 24 giờ kể từ ngày thanh toán giao dịch.
b) Tổ chức, cá nhân và người có liên quan thực hiện mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung để nắm giữ trên 25% cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành mà không thông qua phương thức tổ chức đấu giá công khai theo quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
3.2 Hành vi vi phạm quy định về bảo vệ cổ đông:
Cổ đông sáng lập tham gia mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung, vi phạm nguyên tắc phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc việc phát hành.
3.3 Hành vi vi phạm về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài:
a) Các tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung nắm giữ quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành, chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đầu tư chứng khoán hoặc một tổ chức nước ngoài nắm giữ quá 7% và một cá nhân nước ngoài nắm giữ quá 3% đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư;
b) Các tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung nắm giữ quá 40% tổng số trái phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành hoặc một tổ chức nước ngoài nắm giữ quá 10% và một cá nhân nước ngoài nắm giữ quá 5% đối với trái phiếu.
4. Hành vi vi phạm các quy định về giấy phép hoạt động kinh doanh và dịch vụ chứng khoán (Điều 7, Nghị định)
4.1. Hành vi sử dụng tên gọi trái với quy định trong giấy phép hoạt động; vi phạm điều lệ; tổ chức khai trương hoạt động khi chưa đủ điều kiện, thể hiện như sau:
Sử dụng mã số, ký mã hiệu để chỉ dẫn, giới thiệu tên gọi của công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện công ty trên các ấn phẩm, quảng cáo, biển hiệu và trong giao dịch trái với quy định trong giấy phép hoạt động được cấp.
Tổ chức thực hiện hoặc chỉ dẫn sử dụng, giới thiệu về phạm vi hoạt động không phù hợp với giấy phép được cấp và điều lệ công ty hoặc sửa đổi điều lệ công ty làm sai lệch với quy định trong giấy phép được cấp.
Tổ chức khai trương hoạt động của công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện công ty hoặc triển khai hoạt động các lĩnh vực nghiệp vụ được cấp phép mà chưa đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
4.2. Hành vi tiến hành hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ chứng khoán khi chưa được cấp giấy phép; cho mượn, cho thuê hoặc chuyển nhượng giấy phép; hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ chứng khoán trong lĩnh vực mà giấy phép không quy định hoặc giấy phép đã hết hạn; tẩy xoá, sửa chữa giấy phép hoạt động, giấy phép mở chi nhánh, đặt văn phòng đại diện; thay đổi, thuyên chuyển trụ sở, mở thêm chi nhánh; thay đổi Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, tách ra hoặc sáp nhập vào công ty chứng khoán khác khi chưa được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.
Hành vi vi phạm các quy định về hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh doanh chứng khoán (Điều 8 Nghị định)
5.1. Để xác định một trong những hành vi vi phạm nguyên tắc đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh bằng việc duy trì thường xuyên tình trạng tài chính lành mạnh, đủ lượng vốn khả dụng, phân tán rủi ro trong đầu tư hoặc tham gia bảo lãnh, hạn chế được rủi ro, thua lỗ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán, cần phải xem xét các căn cứ sau:
a) Không duy trì đủ lượng vốn khả dụng (đối với các công ty chứng khoán), vốn lưu hoạt (đối với công ty quản lý quỹ đầu tư) được xác định với một số lần vào các thời điểm cuối tháng trước đó và vào thời điểm được thanh tra để kết luận mặc dù công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư đã có những biện pháp khắc phục nhưng hiệu quả chưa cao;
b) Mua sắm trang thiết bị và tài sản cố định vượt quá tỷ lệ quy định;
c) Tham gia đầu tư hoặc bảo lãnh vượt các hạn mức quy định, vi phạm quy tắc phân tán rủi ro.
5.2. Cách xác định các hành vi lợi dụng việc quản lý vốn và tài sản của khách hàng để sử dụng, kinh doanh cho chính mình hoặc cho khách hàng nhưng chưa được khách hàng uỷ thác, không thực hiện tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới cho khách hàng, phải căn cứ các quy định sau:
a) Vi phạm các hợp đồng đã ký kết với khách hàng;
b) Vi phạm nguyên tắc trong thực hiện lệnh mua, lệnh bán chứng khoán cho khách hàng;
c) Vi phạm các nguyên tắc về trật tự ưu tiên trong giao dịch chứng khoán;
d) Vi phạm nguyên tắc tách biệt giữa việc đặt lệnh của khách hàng và việc đặt lệnh tự doanh.
5.3. Việc xác định hành vi tham gia hoạt động kinh doanh những lĩnh vực bị cấm theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cần xem xét các căn cứ sau:
a) Có đủ căn cứ để xác định là công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư đã tham gia hoạt động tín dụng và cho vay chứng khoán, dùng vốn hay tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán để cho vay hoặc bảo lãnh;
b) Phân tán hoặc điều hoà tài sản đầu tư giữa các quỹ đầu tư chứng khoán do chính mình quản lý, bằng việc dùng vốn của quỹ đầu tư này để đầu tư hoặc mua tài sản quỹ khác trong cùng một công ty quản lý quỹ.
6. Hành vi vi phạm các quy định về người hành nghề kinh doanh chứng khoán
6.1. Tổ chức kinh doanh chứng khoán (công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư và quỹ đầu tư chứng khoán) đã bố trí, sử dụng những người chưa có giấy phép hành nghề vào những nghiệp vụ mà quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán là phải có giấy phép hành nghề hoặc không thay đổi, thuyên chuyển công tác đối với những người có giấy phép hành nghề nhưng bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy phép hành nghề hoặc buộc phải chuyển sang công tác khác.
6.2. Người hành nghề kinh doanh chứng khoán bị tước quyền sử dụng giấy phép trong các trường hợp:
a) Người hành nghề kinh doanh chứng khoán đồng thời làm việc hoặc góp vốn vào hai hoặc nhiều công ty chứng khoán; làm giám đốc, thành viên hội đồng quản trị, cổ đông sở hữu trên 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành.
b) Người hành nghề kinh doanh chứng khoán trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia bán khống chứng khoán không thuộc quyền sở hữu chứng khoán tại thời điểm giao dịch; mua bán chứng khoán trong khi tổ chức phát hành chưa công bố thông tin ra công chúng; công bố tuyên truyền sai sự thật, tham gia hoạt động tín dụng và cho vay chứng khoán; tham gia hoạt động thao túng thị trường, lũng đoạn thị trường.
7. Hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm của ngân hàng giám sát (Điều 10 Nghị định)
7.1 Không thực hiện việc tách biệt giữa tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán với tài sản khác hoặc giữa tài sản của các quỹ đầu tư chứng khoán khác nhau;
7.2 Thiếu trách nhiệm trong quản lý hoặc sử dụng không đúng mục đích theo quy định của điều lệ quỹ về tài sản của các quỹ đầu tư chứng khoán;
7.3 Vi phạm hợp đồng quản lý, giám sát đã ký với công ty quản lý quỹ.
8. Hành vi vi phạm quy định về đăng ký, thanh toán bù trừ, lưu ký chứng khoán (Điều 11 Nghị định)
8.1 Lợi dụng chức năng lưu ký chứng khoán cho khách hàng để cho mượn, cho vay chứng khoán trên tài khoản lưu ký của khách hàng hoặc dùng số chứng khoán lưu ký của khách hàng để cầm cố.
8.2 Lợi dụng thực hiện nghiệp vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng để tham ô, làm thất thoát chứng khoán của khách hàng bằng cách sửa chữa tẩy xoá, giả mạo chứng từ lưu ký, chứng từ thanh toán chuyển giao chứng khoán, chứng từ gửi, rút chứng khoán.
8.3 Vi phạm chế độ bảo quản, kiểm kê, đối chiếu, sao kê định kỳ hoặc làm rách nát, thất lạc, chứng khoán giả trong kho lưu ký, chế độ phòng chống cháy nổ.
8.4 Vi phạm chế độ hạch toán kế toán, thanh toán chuyển giao chứng khoán, đối chiếu xác nhận số dư tài khoản lưu ký với khách hàng hoặc thiếu sao kế đối chiếu giữa kế toán phân tích với kế toán tổng hợp, sai lệch kéo dài, gây tổn thất cho người đầu tư.
9. Hành vi vi phạm các quy định về chế độ báo cáo trong hoạt động kinh doanh chứng khoán (Điều 12 Nghị định)
9.1 Cá nhân, tổ chức có chức năng nhiệm vụ quy định về việc lập và gửi báo cáo thống kê theo quy định nhưng do thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc lập và gửi báo cáo thống kê không đầy đủ, không đúng thời gian, không đúng mẫu biểu quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
9.2 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư, tổ chức lưu ký chứng khoán ngừng hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ mà không báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước hoặc đã báo cáo nhưng chưa được sự chấp thuận.
9.3 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư, tổ chức lưu ký chứng khoán cố ý không báo cáo hoặc báo cáo không kịp thời khi có xảy ra các sự kiện bất thường có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tài chính và hoạt động kinh doanh của chính mình.
10. Hành vi vi phạm quy định về công bố thông tin (Điều 13 Nghị định)
10.1 Cá nhân, tổ chức lợi dụng chức năng, nhiệm vụ được giao trong việc lập hồ sơ tài liệu; việc kiểm tra xác nhận tính chính xác, hợp pháp, hợp lệ các tài liệu, số liệu để che giấu sự thực trong các tài liệu công bố thông tin ra công chúng, bằng cách lập, cung cấp thông tin không đầy đủ, kịp thời, đúng định kỳ và đúng quy định của pháp luật, cung cấp thông tin và báo cáo sai sự thật.
10.2 Lợi dựng quyền hạn, nhiệm vụ được giao sử dựng thông tin "nội bộ" để thực hiện các hoạt động trái pháp luật, như làm lộ bí mật các số liệu, tài liệu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
10.3 Lợi dụng quyền hạn, nhiệm vụ được giao là người công bố thông tin ra công chúng để công bố thay đổi nội dung thông tin quan trọng, công bố những thông tin trái ngược nhau hoặc phủ nhận các thông tin đã được công bố trước đó.
11 Hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra hoặc không thực hiện các kiến nghị của Thanh tra (Điều 14 - Nghị định)
11.1 Tổ chức, cá nhân và người có liên quan là đối tượng thanh tra cố ý cản trở, không thực hiện các yêu cầu liên quan đến hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật bằng việc trì hoãn, lẩn tránh hoặc đối phó, không cung cấp kịp thời, đầy đủ các văn bản, tài liệu, chứng từ, số liệu theo yêu cầu của tổ chức thanh tra, đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên khi đang làm nhiệm vụ.
11.2 Tổ chức, cá nhân và người có liên quan là đối tượng thanh tra cố ý cản trở, không chấp hành quyết định của tổ chức thanh tra, đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên; cung cấp thông tin không chính xác bằng việc che giấu, sửa chữa, chứng từ, tài liệu, sổ sách hoặc làm thay đổi tang vật trong khi đang bị thanh tra; chống đối, cản trở quyết định xử lý về thanh tra bằng việc tự ý tháo bỏ, di chuyển, có hành vi khác làm thay đối tình trạng niêm phong tiền và chứng khoán, sổ sách, hồ sơ, chứng từ kế toán hoặc tang vật phương tiện đang bị niêm phong khác.
III. ÁP DỤNG CÁC HÌNH THỨC PHẠT, MỨC PHẠT, BIỆN PHÁP XỬ LÝ
1. Phạt cảnh cáo
Hình thức phạt cảnh cáo, theo quy định tại Khoản 1
Điều 2 Nghị định, chỉ áp dụng đối với các trường hợp mà quy định có hình thức phạt cảnh cáo theo điều, khoản tương ứng của Nghị định hoặc có thể được áp dụng đối với các trường hợp khác nếu có một trong các tình tiết sau:
Vô ý vi phạm;
Vi phạm lần đầu và có quy mô nhỏ, không gây thiệt hại đáng kể cho thị trường chứng khoán và người đầu tư và có tình tiết giảm nhẹ.
2. Phạt tiền
Khi xét thấy hành vi vi phạm không thuộc trường hợp áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc vượt mức phạt cảnh cáo, thì áp dụng hình thức phạt tiền. Mức phạt được áp dụng như sau:
2.1 Trường hợp vi phạm mà không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức phạt ở mức trung bình ở khung phạt tiền.
2.2 Trường hợp có một trong các tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng mức phạt dưới mức trung bình đến mức tối thiểu của khung phạt tiền.
2.3 Trường hợp có một trong những tình tiết tăng nặng thì áp dụng mức phạt tiền trên mức trung bình đến mức tối đa của khung phạt tiền.
3. Tước quyền sử dụng giấy phép
3.1. Hình thức tước quyền sử dụng giấy phép là hình thức phạt bổ sung, không áp dụng độc lập, chỉ được áp dụng kèm theo các hình thức phạt chính (cảnh cáo hoặc phạt tiền) khi người có thẩm quyền xác định có đủ căn cứ và điều kiện để áp dụng (như có quy định cho phép áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép đối với hành vi vi phạm trong các điều của Nghị định).
3.2 Điều kiện để xét áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc không thời hạn phải tuân theo quy định tại các điều có quy định tước quyền sử dụng giấy phép trong Nghị định. Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép phải tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm cụ thể và nằm trong khoảng thời hạn cho phép áp dụng đối với hành vi đó, theo quy định tại các điều tương ứng trong Nghị định.
3.3 Người có thẩm quyền khi thực hiện biện pháp xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép phải tuân theo các quy định của Nghị định. Đối với biện pháp xử phạt tước quyền sử dụng các loại giấy phép do Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp, trước khi áp dụng người có thẩm quyền phải kiến nghị bằng văn bản (kèm theo hồ sơ vụ việc) xin ý kiến chấp thuận của Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
4. Tịch thu toàn bộ các khoản thu từ việc thực hiện các hành vi vi phạm mà có và số chứng khoán liên quan đến hành vi vi phạm.
Hình thức tịch thu toàn bộ các khoản thu từ việc thực hiện các hành vi vi phạm mà có và số chứng khoán liên quan hành vi vi phạm chỉ được áp dụng kèm theo các hình thức phạt chính, khi người có thẩm quyền xác định có đủ căn cứ và điều kiện để áp dụng như:
Có quy định cho phép áp dụng hình thức tịch thu đối với hành vi vi phạm liên quan tại điều, khoản, điểm cụ thể trong các điều của Nghị định và các dữ kiện thực tế của vụ việc vi phạm, các dữ kiện đó phải được ghi đầy đủ trong biên bản vi phạm;
Đã có thông báo yêu cầu đình chỉ vi phạm hoặc có quy định hành vi bị cấm nhưng vẫn cố tình vi phạm hoặc tái phạm, sau khi đã phạm cảnh cáo hoặc phạt tiền về hành vi vi phạm trước đó.
5. Các biện pháp khác
5.1 Áp dụng biện pháp xử lý khác, đối với hành vi vi phạm được xác định trong trường hợp xét thấy cần thiết, để ngăn chặn việc tiếp tục vi phạm và khắc phục hậu quả vi phạm, tuân theo các quy định tương ứng tại các điều trong Nghị định, cụ thể là:
a) Loại bỏ yếu tố vi phạm, bằng cách buộc khôi phục lại đúng tỷ lệ an toàn theo quy định hoặc trạng thái ban đầu, sao cho bảo đảm ngăn ngừa khả năng tiếp tục vi phạm;
b) Buộc huỷ bỏ, cải chính thông tin sai lệch, không đúng sự thật gây ra vi phạm bằng việc đăng lời cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng, bằng văn bản cải chính gửi cho cơ quan có thẩm quyền và các đối tượng liên quan;
c) Về bồi thường thiệt hại, nếu các bên tự thoả thuận được với nhau về việc không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc về mức bồi thường thiệt hại, thì người có thẩm quyền xử phạt công nhận thoả thuận đó và ghi vào quyết định xử phạt. Trường hợp các bên không tự thoả thuận được về khoản tiền bồi thường, nếu ở mức đến 1.000.000 đồng, thì người có thẩm quyền căn cứ vào hậu quả thiệt hại thực tế để quyết định mức bồi thường cụ thể và ghi vào quyết định xử phạt; nếu ở mức trên 1.000.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt yêu cầu các bên tiến hành khởi kiện ra toà án, theo thủ tục tố tụng dân sự và ghi rõ điều này trong quyết định xử phạt.
5.2 Trường hợp quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì không xử phạt nhưng có thể bị áp dụng các biện pháp khác quy định tại Điểm a Khoản 3
Điều 11 Pháp lệnh.
IV. THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XỬ PHẠT
1. Thẩm quyền xử phạt
1.1 Thanh tra viên chuyên ngành Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Chánh Thanh tra Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là người có thẩm quyền xử phạt được quy định tại
Điều 15 Nghị định.
1.2 Trường hợp một hành vi vi phạm của một tổ chức, cá nhân xảy ra trên nhiều địa phương khác nhau, thì người có thẩm quyền phát hiện vi phạm lập biên bản, đình chỉ vi phạm và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền ở nơi đóng trụ sở chính của tổ chức vi phạm thụ lý hồ sơ xử lý và cơ quan này phải thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền ở các địa phương liên quan biết, để cùng phối hợp xử lý vi phạm.
1.3 Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng tham gia thực hiện một hành vi vi phạm, thì người có thẩm quyền phát hiện vi phạm lập biên bản đình chỉ vi phạm và thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền ở các địa phương biết, để cùng phối hợp xử lý vi phạm.
Đối với vi phạm có tổ chức, quy mô lớn nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan có thẩm quyền chủ trì, phối hợp với các địa phương để xử lý.
1.4 Khi xét thấy vi phạm hành chính cần áp dụng mức phạt và các biện pháp xử lý khác ngoài phạm vi thẩm quyền của mình, Chánh Thanh tra Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước báo cáo Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước để chuyển hồ sơ vụ việc tới chính quyền địa phương có thẩm quyền giải quyết.
2. Thủ tục xử phạt
2.1 Việc quyết định phạt cảnh cáo được thực hiện bằng văn bản, khi xét thấy cần thiết, cơ quan có thẩm quyền gửi quyết định xử phạt đến chính quyền đia phương nơi người vi phạm cư trú hoặc cơ quan quản lý người vi phạm.
2.2. Trường hợp quyết định phạt tiền thì cơ quan có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản vi phạm hành chính. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, cơ quan có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt.
Quyết định xử phạt phải được gửi cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt chậm nhất trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán phải thi hành quyết định xử phạt trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày được giao quyết đình xử phạt.
3. Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.
Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, nếu tổ chức, cá nhân bị xử phạt không tự giác thi hành, thì thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt được quyền:
Yêu cầu ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác trích tiền từ tài khoản của tổ chức, cá nhân để nộp phạt.
Cơ quan có thẩm quyền xử phạt gửi công văn kèm quyết định xử phạt để ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng khác làm căn cứ trích tiền từ tài khoản để nộp phạt.
Trường hợp cần xử lý kê biên tài sản, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt phải báo cáo xin ý kiến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Sau khi được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ký quyết định, cơ quan có thẩm quyền phối hợp với lực lượng công an, viện kiểm sát nhân dân tiến hành kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá theo luật định.
4. Việc xử lý tịch thu số chứng khoán liên quan đến hành vi vi phạm thực hiện theo quy định tại
Điều 51 Pháp lệnh.
Quyết định tịch thu số chứng khoán liên quan đến hành vi vi phạm có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên, phải gửi cho viện kiểm sát nhân dân cùng cấp một bản.
V. TỐ CÁO, KHIẾU NẠI VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.1 Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tố cáo hành vì vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán với cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Người tố cáo có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ thông tin cụ thể về hành vi vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền xử lý và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo đó. Cơ quan có thẩm quyền nhận được tố cáo có trách nhiệm giải quyết tố cáo theo quy định tại
Chương IV, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998.