THÔNG TƯ Về đảm bảo quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở Tiếp theo các thông tư hướng dẫn về chế độ tài chính đối với các đơn vị kinh tế cơ sở, thông tư này quy định những điểm sửa đổi, bổ sung về kế toán để thi hành Quyết định số 76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng như sau: I. KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Ngoài những điểm đã quy định tại Thông tư liện Bộ Tài chính - Tổng cục Thống kê số 43-LB/TT ngày 29-11-1986 về kế toán xử lý kết quả tổng kiểm kê và đánh giá lại tài sản cố định, các đơn vị xí nghiệp phải thực hiện các điểm sau đây: Trường hợp tài sản cố định đã khấu hao cơ bản hết, nhưng vẫn được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thì xí nghiệp phải xác định lại giá trị còn sử dụng được của tài sản cố định để tiếp tục trích khấu hao tính vào giá thành sản phẩm. Khoản trích khấu hao cơ bản của những tài sản cố định này được đưa vào quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp, kế toán ghi: Nợ TK 86 - Vốn khấu hao (86.1 - Vốn khấu hao cơ bản). Có TK 87 - Các quỹ của xí nghiệp (87.1 - Quỹ khuyến khích phát triển sản xuất). Khi chuyển tiền gửi Ngân hàng, ghi: Nợ TK 55 - các khoản tiền gửi Ngân hàng khác (55.5 - Tiền gửi Ngân hàng về các quỹ xí nghiệp). Có TK 51 - Tiền gửi Ngân hàng. Vốn khấu hao sửa chữa lớn sử dụng theo chế độ hiện hành. 2. Trường hợp tài sản cố định chưa khấu hao hết đã hư hỏng, không sử dụng được nữa do nguyên nhân chủ quan, xí nghiệp phải làm thủ tục thanh lý, ghi giảm giá trị tài sản cố định và vốn cố định theo chế độ hiện hành. Khoản thiệt hại do tài sản cố định hư hỏng trước thời hạn gây ra, nếu là tài sản cố định đầu tư bằng vốn tín dụng thì xí nghiệp phải dùng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để trả nợ Ngân hàng số tiền vay chưa trả hết, kế toán ghi: Nợ TK 87 - Các quỹ của xí nghiệp (87.1 - quỹ khuyến khích phát triển sản xuất). Có TK 72 - Thanh toán tiền vay Ngân hàng về xây dựng cơ bản bằng lợi nhuận và các nguồn vốn khác. Khi trả nợ Ngân hàng kế toán ghi: Nợ TK 94 - Vay dài hạn Ngân hàng. Có TK 55 - Các khoản tiền gửi Ngân hàng khác (55.5 - Tiền gửi Ngân hàng về các quỹ xí nghiệp). Nếu là tài sản cố định đầu tư bằng vốn của ngân sách thì xí nghiệp phải dùng vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản để nộp ngân sách phần giá trị còn lại chưa khấu hao cơ bản hết, kế toán ghi: - Xác định số phải nộp: Nợ TK 87 - Các quỹ của xí nghiệp (87.4 - Vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản). Có TK 71 - Thanh toán với ngân sách (71.4 - Các khoản nộp khác). - Khi thanh toán với ngân sách: Nợ TK 71 - Thanh toán với ngân sách (71.4 - các khoản nộp khác). Có TK 55 - Các khoản tiền gửi ngân hàng khác (55.7 - Tiền gửi ngân hàng về vốn tự có đầu tư xây dựng cơ bản). 3. Trường hợp cấp có thẩm quyền ra lệnh điều động hoặc cho phép nhượng bán tài sản cố định, xí nghiệp phải tiến hành đánh giá lại tài sản cố định đó để xác định nguyên giá và giá trị còn lại phù hợp với chi phí đầu tư, mua sắm và mức hao mòn của tài sản cố định ở thời điểm bàn giao. Nguyên giá và giá trị còn lại của tài sản cố định đã được đánh giá lại nói trên là
căn cứ để tiến hành bàn giao và thanh toán giữa bên giao và bên nhận. Mọi trường hợp điều đồng, nhượng bán tài sản cố định của xí nghiệp phải được thanh toán bằng tiền và thực hiện đúng theo các quy định của Nhà nước về thủ tục và phương pháp ghi chép kế toán. Tiền thu về điều động, nhượng bán tài sản cố định tuỳ theo nguồn vốn đầu tư, mua sắm tài sản đó mà phải nộp ngân sách (nếu bằng vốn ngân sách), trả nợ ngân hàng (nếu bằng vốn tín dụng), hoặc bổ sung vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản (nếu bằng vốn tự có). Trình tự ghi sổ kế toán như sau: a) Khi thu được tiền do điều động, nhượng bán tài sản cố định đầu tư bằng vốn ngân sách hoặc vốn tín dụng, kế toán ghi: Nợ TK 51 - Tiền gửi ngân hàng. Có TK 30 - Kinh doanh ngoài cơ bản. b) Xác định số phải nộp ngân sách, hoặc trả nợ ngân hàng, ghi: Nợ TK 30 - Sản xuất kinh doanh ngoài cơ bản. Có TK 71 - Thanh toán với ngân sách (71.4 - Các khoản nộp khác), hoặc: Có TK 72 - Thanh toán tiền vay ngân hàng về xây dựng cơ bản bằng lợi nhuận và các nguồn vốn khác. Số phải nộp ngân sách là phần giá trị còn lại chưa khấu hao hết của tài sản cố định. Số phải trả nợ ngân hàng là số tiền vay còn nợ ngân hàng về đầu tư xây dựng cơ bản của tài sản cố định điều động, nhượng bán: c) Khi nộp ngân sách, ghi: Nợ TK 71 - Thanh toán với ngân sách (71.4 - Các khoản nộp khác) Có TK 51 - Tiền gửi ngân hàng. d) Khi trả nợ ngân hàng, ghi: Nợ TK 94 - Vay dài hạn ngân hàng. Có TK 51 - Tiền gửi Ngân hàng. e)
Phần chênh lệch (thu lớn hơn số phải nộp) do điều động nhượng bán tài sản cố định được bổ sung vào quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, kế toán ghi:
Phần chênh lệch (phải nộp lớn hơn số thu) do điều động, nhượng bán tài sản cố định được bù đắp bằng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, kế toán ghi sổ bằng các bút toán ngược lại các bút toán ở mục e.
Phần chênh lệch thu lớn hơn chi do thanh lý tài sản cố định được đưa vào quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, kế toán ghi:
Phần chênh lệch chi lớn hơn thu do thanh lý tài sản cố định thì dùng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để bù đắp, kế toán ghi sổ bằng các bút toán ngược lại các bút toán nói trên.
Phần còn lại sau khi nộp một tỷ lệ nhất định cho cấp trên lập quỹ dự trữ tài chính, sẽ được bổ sung vào các quỹ xí nghiệp (vào quỹ nào, bao nhiêu, do giám đốc xí nghiệp quyết định). Kết quả phân phối này sẽ được xác định khi duyệt quyết toán.
Phần quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi được trích vượt quá 50% quỹ lương cơ bản (sau khi đã trừ 1% số dành cho hai quỹ này để lập quỹ Bộ trưởng hoặc quỹ Tổng giám đốc) phải trích một phần nộp ngân sách và cơ quan quản lý cấp trên để lập quỹ dự trữ tài chính.