THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 11-TC/CNA NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 1985 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN VÀ TRÍCH LẬP QUỸ XÍ NGHIỆP TRONG CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH Thi hành Nghị quyết số 156-HĐBT ngày 30-11-1984 của Hội đồng Bộ trưởng về một số vấn đề cải tiến quản lý công nghiệp quốc doanh, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp trong công nghiệp quốc doanh như sau: I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Lợi nhuận định mức được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (hoặc bằng số tuyệt đối) trên giá thành hợp lý của sản phẩm xí nghiệp để làm giá bán buôn xí nghiệp. Do đó về nguyên tắc lợi nhuận định mức được áp dụng ổn định cho nhiều năm cùng với việc ổn định giá bán buôn xí nghiệp của sản phẩm. Chế độ phân phối lợi nhuận được xây dựng phù hợp với cơ cấu và thành phần của lợi nhuận định mức. Việc thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận hàng năm sẽ
căn cứ vào số lợi nhuận định mức. Việc thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận hàng năm sẽ
căn cứ vào số lợi nhuận kế hoạch và lợi nhuận thực tế đạt được của đơn vị xí nghiệp. Lợi nhuận kế hoạch pháp lệnh hàng năm của xí nghiệp khác với lợi nhuận định mức, do hàng năm có sự thay đổi về kế hoạch sản lượng tiêu thụ, chất lượng sản phẩm, kết cầu mặt hàng, giá bán bình quân và giá thành sản phẩm. Trong lợi nhuận kế hoạch pháp lệnh hàng năm của xí nghiệp sẽ bao gồm lợi nhuận kế hoạch của phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và bằng vật tư do xí nghiệp tự tìm kiếm thêm. Lợi nhuận ngoài chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là lợi nhuận của phần sản xuất những sản phẩm do xí nghiệp tìm kiếm và khai thác những nguồn khả năng mới để sản xuất thêm không thuộc những mặt hàng đã ghi trong kế hoạch pháp lệnh Nhà nước giao cho xí nghiệp. Lợi nhuận thực hiện thuộc chỉ tiêu pháp lệnh của xí nghiệp bao gồm lợi nhuận trong kế hoạch pháp lệnh và lợi nhuận vượt kế hoạch pháp lệnh của phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và bằng vật tư tìm kiếm. Lợi nhuận thực hiện của phần sản xuất sản phẩm ngoài chỉ tiêu pháp lệnh thì chủ yếu là bằng nguồn vốn vật tư tự tìm kiếm . Lợi nhuận thực hiện của phần sản xuất sản phẩm ngoài chỉ tiêu pháp lệnh thì chủ yếu là bằng nguồn vật tư tự tìm kiếm . Lợi nhuận thực hiện chỉ bao gồm khoản chênh lệch giữa giá xí nghiệp được duyệt với giá thành thực tế. Các xí nghiệp không được tính vào lợi nhuận thực hiện các khoản chênh lệch giá. 2. Các khoản phải nộp phạt do vi phạm hợp đồng, vi phạm chế độ tín dụng ngân hàng và các khoản chi phí bất hợp lý, bất hợp lệ... xí nghiệp không được hạch toán vào giá thành mà phải trừ vào phần lợi nhuận để lại xí nghiệp sau khi thực hiện việc phân phối lợi nhuận giữa ngân sách và xí nghiệp. 3. Do cơ chế phân phối các phần lợi nhuận nói trên khác nhau, xí nghiệp phải hạch toán rành mạch từng phần lợi nhuận nhằm đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp và bảo đảm phân phối được công bằng, hợp lý. 4. Lợi nhuận trong chỉ tiêu pháp lệnh của xí nghiệp (bao gồm lợi nhuận của phần sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và vật tư tự tìm kiếm thêm) đều phải được kế hoạch hoá trong một kế hoạch sản xuất kỹ thuật tài chính thống nhất của xí nghiệp. Nhà nước khuyến khích xí nghiệp tự tìm kiếm nguồn bổ sung vật tư đẻ tăng sản xuất sản phẩm kể cả trong và ngoài chỉ tiêu pháp lệnh bằng cách giành phần lợi nhuận để lại xí nghiệp cao hơn so với kế hoạch sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng. Nhằm khuyến khích xí nghiệp lập kế hoạch pháp lệnh tích cực và chủ động cân đối trong kế hoạch, phần lợi nhuận thực hiện của cả kế hoạch sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và bằng vật tư tự tìm kiếm trong kế hoạch được tỷ lệ khuyển khích cao hơn.
Phần vượt kế hoạch cũng được khuyến khích, nhưng với tỷ lệ thấp hơn.
Phần còn lại (40% và 20%) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Phần lợi nhuận vượt kế hoạch pháp lệnh bao gồm cả phần kế hoạch sản xuất bằng vật tư do Nhà nước cung ứng và phần sản xuất bằng vật tư do xí nghiệp tự tìm kiếm được phân phối 60% nộp ngân sách Nhà nước, 40% để lại xí nghiệp, phần để lại xí nghiệp được phân phối cho 3 quỹ cũng theo các tỷ lệ tương ứng nói trên.