HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 248/2011/NQ-HĐND CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Điện Biên, ngày 25 tháng 7 năm 2011 NGHỊ QUYẾT Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, giai đoạn 2011-2015 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN KHÓA XIII, KỲ HỌP THỨ 2
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004;
Căn cứ Chỉ thị số: 751/CT-TTg, ngày 03/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015;
Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Điện Biên giai đoạn đến năm 2020 và các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm trên địa bàn;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII;
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII;
Điều 1
Nhất trí các nội dung đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm giai đoạn 2006-2010 và mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015 của UBND tỉnh trình tại kỳ họp. HĐND tỉnh nhấn mạnh một số nội dung cơ bản sau:
I. Về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm (giai đoạn 2006 -2010).
Thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006 - 2010 và mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới, trong nước có nhiều biến động phức tạp, trong điều kiện của một tỉnh miền núi biên giới, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí còn hạn chế. Song được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của các Bộ, Ngành Trung ương, đặc biệt sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nên 5 năm qua các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, quốc phòng an ninh được đảm bảo, hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn. Kết quả đạt được trên từng lĩnh vực cụ thể như sau:
1. Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm là 11,62%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2001-2005 (9,3%), đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm đã đề ra (mục tiêu 11-12%). Trong đó: ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân là 5,4%; ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân là 16,51%; dịch vụ tăng bình quân 13,9%.
Quy mô GDP theo giá thực tế năm 2010 đạt 5.625 tỷ đồng, gấp 2,37 lần năm 2005, Thu nhập bình quân đầu người (giá thực tế) tăng từ 4,46 triệu đồng năm 2005 lên 11,15 triệu đồng năm 2010, mức tăng bình quân đạt 20,1% năm.
Cơ cấu kinh tế ngành được chuyển dịch theo hướng xác định; các vùng kinh tế theo quy hoạch được hình thành và có bước phát triển đúng định hướng.
Tổng sản lượng lương thực tăng từ 176,7 ngàn tấn năm 2005 lên 222,49 ngàn tấn năm 2010 (vượt mục tiêu kế hoạch đề ra), trong đó riêng thóc đạt 155,11 ngàn tấn, chiếm 69,7% tổng sản lượng lương thực; lương thực bình quân đầu người năm 2010 đạt 441kg/người, tăng 38,46 kg/người so với năm 2005, đạt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm đề ra. Một số cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê phát triển nhanh (cao su 3.483 ha, cà phê 2.480 ha) mở ra hướng đi mới trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2006-2010 trung bình hàng năm tăng 27,7%, năm 2010 đạt 440,5 tỷ đồng gấp 3,4 lần so với năm 2005, chỉ tính riêng khoản thu nội địa, đến năm 2010 đạt 273,5 tỷ đồng, (vượt mục tiêu kế hoạch). Số thu tại địa bàn đáp ứng được trên 10% nhu cầu chi tại địa phương, tỷ lệ huy động trong GDP đạt 4,8% (tính riêng thu nội địa).
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 13,3 triệu USD, tăng cao so với năm 2005, đạt 44,3% mục tiêu Nghị quyết.
Cơ bản hoàn thành chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La.
2. Về xã hội :
Các lĩnh vực giáo dục đào tạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân và các hoạt động văn hóa xã hội khác đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững, nâng cao từng bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đến năm 2010, nhiều chỉ tiêu quan trọng đã đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006-2010 là tạo việc làm mới, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I, xây dựng gia đình thôn bản văn hóa...
3. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư tăng cường, hầu hết các tuyến quốc lộ đã được nâng cấp, tuyến tỉnh lộ đều được kiên cố hóa, 112/112 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó có 82 xã có đường ô tô đi lại được quanh năm; tổng năng lực tưới của các công trình thủy lợi là 29.353 ha; 9/9 huyện thị, 102/112 xã phường có điện đến trung tâm xã đạt tỷ lệ 91,07 %, tỷ lệ số hộ dân được sử dụng điện là 75,5%; số dân nông thôn được cấp nước sạch hợp vệ sinh đạt 71%, dân đô thị được cấp nước sạch đạt 85%; cơ sở vật chất các trường chuyên nghiệp cơ bản đáp ứng nhu cầu dậy và học, tỷ lệ phòng học kiên cố hệ mầm non và phổ thông đạt 66,49%; hệ thống hạ tầng về y tế các cấp được tăng cường một bước, 100% xã có trạm y tế xã, bình quân có 26,8 giường bệnh quốc lập/1 vạn dân; hạ tầng văn hóa, thông tin và thể dục thể thao đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Tuy đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, nhưng 5 năm qua vẫn còn những tồn tại, yếu kém đó là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa thực sự vững chắc, chất lượng của tăng trưởng kinh tế còn thấp, thiếu bền vững. Sự tăng trưởng phụ thuộc lớn vào nguồn NSNN, việc khai thác các tiềm năng lợi thế của địa phương đóng góp cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu chưa nhiều.
Sản xuất nông lâm nghiệp tuy đã đạt được những kết quả khích lệ nhưng quy mô vẫn còn nhỏ bé, tiềm năng về rừng và đất rừng chưa được khai thác hiệu quả, tỷ lệ che phủ của rừng đạt thấp (37,4%).
Công nghiệp tăng trưởng chưa ổn định, khai thác tiềm năng thủy điện còn hạn chế, quy mô ngành công nghiệp nhỏ, mức đóng góp vào nền kinh tế còn thấp.
Các thành phần kinh tế phát triển nhưng còn nhiều hạn chế, chưa bền vững, chủ yếu tập trung ở lĩnh vực xây dựng và dịch vụ; lĩnh vực sản xuất và trồng rừng bước đầu có sự đầu tư của một số doanh nghiệp lớn nhưng đa số đang ở giai đoạn kiến thiết cơ bản. Các doanh nghiệp nhà nước tuy đã được sắp xếp, đổi mới nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả.
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Toàn tỉnh vẫn còn 30/112 xã ô tô không đi lại được vào mùa mưa; 10/112 xã chưa có điện lưới quốc gia, 24,5% số hộ chưa được sử dụng điện; vẫn còn 2.543 phòng học tạm và thiếu khoảng 1.141 phòng ở cho học sinh bán trú dân nuôi; 9 xã chưa có nhà trạm y tế và 31 trạm y tế xã hiện đã xuống cấp nghiêm trọng; 96 xã và 1.551 thôn, bản chưa có nhà văn hóa.
Thu ngân sách trên địa bàn chiếm tỷ trọng thấp, nguồn thu không ổn định. Nguồn thu còn phụ thuộc nhiều vào các công trình xây dựng từ ngân sách Nhà nước; thu ngân sách trên địa bàn mới chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu chi của tỉnh. Tỷ lệ huy động ngân sách trong GDP mặc dù đã được cải thiện song vẫn còn có khoảng cách khá xa so với bình quân chung toàn quốc (4,8% so với 22%).
Công tác xoá đói giảm nghèo chưa bền vững; tỷ lệ đói nghèo theo tiêu chí mới còn cao (50,01%), số hộ cận nghèo nhiều (8,35%), chênh lệch về mức sống giữa các vùng còn lớn;
Sự nghiệp giáo dục, y tế được quan tâm phát triển song vẫn còn nhiều khó khăn. Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, chưa đồng đều giữa các vùng trong tỉnh; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục còn bất cập. Nhân lực ngành y tế còn thiếu, chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ còn hạn chế; các nguy cơ dịch bệnh như: sốt rét, thương hàn và các dịch bệnh nguy hiểm khác như cúm A (H5N1, H1N1), dịch tả… còn tiềm ẩn diễn biến phức tạp ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Các vấn đề bức xúc xã hội vẫn diễn biến phức tạp: Số người nghiện ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS có chiều hướng gia tăng, hiệu quả cai nghiện ma túy thấp, tỷ lệ tái nghiện trên 96%;
Công tác cải cách hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự phối kết hợp giữa cấp các ngành trong công tác quản lý chưa chặt chẽ làm giảm hiệu lực hiệu quả công tác quản lý Nhà nước; năng lực đội ngũ cán bộ, công chức ở một số nơi còn hạn chế, một bộ phận cán bộ cơ sở cấp xã năng lực, trách nhiệm công tác còn yếu, trình độ học vấn và chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp.
Tình hình an ninh trật tự xã hội diễn biến phức tạp như lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo, truyền đạo trái pháp luật, di dịch cư tự do,… tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định; tai nạn giao thông và vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn vẫn còn ở mức cao.
II.
Mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm giai đoạn 2011-2015
Mục tiêu tổng quát
Điều 2
Giao cho UBND tỉnh cụ thể hóa Nghị quyết này thành chương trình, kế hoạch thực hiện từng năm và tăng cường các giải pháp chỉ đạo điều hành để tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011- 2015.
Điều 3
Giao Thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh và đại biểu HĐND tỉnh có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra và giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.
Điều 4
Nghị quyết này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày được HĐND tỉnh thông qua
Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Điện Biên khóa XIII, kỳ họp thứ 02 nhất trí thông qua ngày 20 tháng 7 năm 2011./.
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Thanh Tùng