THÔNG TƯ CỦA TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM SỐ 20/NH-TT NGÀY 18 - 3 - 1981 HƯỚNG DẪN THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 25/CP NGÀY 21-1-1981 CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ VỀ MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁP HUY QUYỀN CHỦ ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ QUYỀN TỰ CHỦ VỀ TÀI CHÍNH CỦA CÁC XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH Thi hành Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 của Hội đồng Chính phủ về một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Ngân hàng Trung ương hướng dẫn một số nội dung về công tác ngân hàng để thực hiện chủ trương trên đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh. Ngân hàng Nhà nước các cấp, trong quá trình tổ chức chấp hành Thông tư này cần quán triệt những nguyên tắc sau đây: a) Đi đôi với việc bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, cần tôn trọng việc mở rộng quyền chủ động sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp, lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị trường, tạo ra những điều kiện cần thiết cho xí nghiệp đẩy mạnh được sản xuất, kinh doanh có lãi. b) Tăng cường quyền tự chủ tài chính của xí nghiệp, sử dụng các nguồn vốn, thiết bị, vật tư, lao động của xí nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất; trên cơ sở đó, giải quyết đúng đắn 3 lợi ích: Nhà nước, tập thể xí nghiệp và cá nhân người lao động, trước tiên là khuyến khích người lao động, tăng năng suất, tăng sản lượng, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống đồng thời bảo đảm nguồn thu của Nhà nước. c) Tạo điều kiện cho xí nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước, đồng thời khuyến khích xí nghiệp tận dụng mọi tiềm lực để sản xuất thêm của cải cho xã hội, củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. 1. Tham gia xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và phân loại xí nghiệp. Ngân hàng Nhà nước Trung ương, tỉnh và thành phố cần phối hợp chặt chẽ, giúp các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu, liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh, công ty, xác định lại phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế trực thuộc phù hợp với khả năng thực tế của ngành, của địa phương, tiến hành phân loại các đơn vị. Ngân hàng cơ sở cùng với xí nghiệp, tổ chức kinh tế xem
xét lại phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và khả năng thực tế để dự kiến xếp loại cho đơn vị mình. Hướng phân loại các xí nghiệp, tổ chức kinh tế như sau: a) Những xí nghiệp có vị trí kinh tế quan trọng phải được bảo đảm những phương tiện vật chất một cách tập trung, và được giao các điều kiện để hoạt động một cách ổn định. b) Những xí nghiệp Nhà nước không bảo đảm cung ứng đủ các phương tiện, vật tư kỹ thuật thì phải phát huy tính chủ động, sáng tạo tìm việc làm, bảo đảm đời sống công nhân, viên chức bằng cách tìm nguyên liệu thay thế, tự cung ứng nguyên vật liệu, làm gia công, có thể làm gia công cho nước ngoài nếu được Chính phủ cho phép và chịu sự hướng dẫn của Bộ Ngoại thương. c) Những xí nghiệp không có khả năng tiếp tục hoạt động thì tạm ngừng sản xuất, bảo quản tốt thiết bị, tìm cách điều hoà, sử dụng vật tư và giải quyết thỏa đáng vấn đề sắp xếp công việc cho công nhân viên, giữ gìn số cán bộ, công nhân kỹ thuật nòng cốt. Một số xí nghiệp địa phương quy mô nhỏ, trước đây chuyển từ hợp tác hay xí nghiệp tư doanh thành quốc doanh, nay gặp nhiều khó khăn về vật tư, năng lượng, làm ăn thua lỗ thì cần xem
xét để giải thể, chuyển lại thành hợp tác xã hoặc giao cho tập thể công nhân tự quản lý. Cùng với việc xác định, phân loại như trên, ngân hàng cơ sở tham gia cùng với giám đốc xí nghiệp sắp xếp, bố trí lại dây truyền sản xuất, tổ chức hợp lý số lao động, bảo đảm điều kiện cho công nhân tiến hành sản xuất chính cũng như sản xuất phù trợ, sản xuất phụ. 2. Tham gia xây dựng kế hoạch vốn lưu động năm 1981, xây dựng kế hoạch tín dụng.
Sau khi đã cùng cơ quan chủ quản xác định lại phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, phân loại xí nghiệp, các ngân hàng chuyên trách ở Trung ương, ngân hàng Tỉnh, Thành phố và Đặc khu phải thông báo ngay kết quả đó cho ngân hàng cơ sở. Ngân hàng cơ sở có trách nhiệm tham gia từ đầu việc xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh của tất cả các loại hình xí nghiệp (Trung ương, Tỉnh, Huyện); các ngân hàng chuyên trách, các ngân hàng Nhà nước Tỉnh, Thành phố phối hợp với cơ quan tài chính, uỷ ban kế hoạch, cơ quan chủ quản đồng cấp, tổ chức xét duyệt các kế hoạch đó, bao gồm: - Kế hoạch nhà nước giao được bảo đảm đủ vật tư và các điều kiện sản xuất, kinh doanh; -Kế hoạch tự làm (xí nghiệp tự giải quyết vật tư, nguyên liệu sản xuất theo nhiệm vụ thiết kế của xí nghiệp); - Kế hoạch sản xuất phụ nhằm tận dụng phế liệu, phế phẩm hoặc lao động dôi thừa. Đi đôi với việc xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh, các xí nghiệp phải xây dựng kế hoạch định mức vốn lưu động năm 1981 theo sự hướng dẫn của liên bộ ngân hàng Nhà nước - Bộ Tài chính. Các ngân hàng cơ sở cần giúp xí nghiệp xác định số vốn lưu động cần thiết để đề nghị xét duyệt kịp thời, đôn đốc các xí nghiệp xin cấp đủ vốn lưu động thiếu, nộp trả vốn lưu động thừa. Ngân hàng cơ sở có trách nhiệm hướng dẫn các xí nghiệp xây dựng kế hoạch vay vốn ngân hàng và tổng hợp nhu cầu vốn tín dụng. Kế hoạch tín dụng phải cụ thể theo ba loại kế hoạch trên, phải ưu tiên tâp trung vốn cho kế hoạch sản xuất Nhà nước giao, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ xí nghiệp thực hiện có hiệu quả kinh tế đối với kế hoạch sản xuất tự làm và kế hoạch sản xuất phụ. 3. Tín dụng đối với phần kế hoạch Nhà nước giao được bảo đảm vật tư và các điều kiện sản xuất. Cần tập trung vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu cần thiết giúp xí nghiệp thực hiện tốt kế hoạch sản xuất, kinh doanh, bảo đảm vốn cho vay có hiệu quả. Thủ tục, cách tính toán cho vay, thu nợ áp dụng theo thể lệ tín dụng hiện hành. Thông qua công tác tín dụng, cần tác động xí nghiệp coi trọng việc hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, tôn trọng các định mức kinh tế - kỹ thuật, nhất là các định mức về nguyên, nhiên ,vật liệu, giá thành sản phẩm, dự trữ vật tư, hàng hóa; không để tình trạng đem vật tư của sản xuất theo kế hoạch Nhà nước giao sử dụng cho sản xuất theo kế hoạch tự làm và sản xuất phụ; giao nộp sản phẩm cho Nhà nước phải đầy đủ, bảo đảm chất lượng. 4. Tín dụng đối với phần kế hoạch tự làm. Để tác động tích cực vào việc thúc đẩy sản xuất phát triển, Ngân hàng Nhà nước cho vay vốn vào các nhu cầu chi phí sản xuất cần thiết theo kế hoạch tự làm. Xí nghiệp được vay vốn phải có các điều kiện sau: Có nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh rõ ràng và sản phẩm tự làm phải trong nhiệm vụ thiết kế của xí nghiệp; được xét duyệt và cấp vốn lưu động tự có hoặc được trích lợi nhuận để tự bổ sung vốn lưu động tự có theo tỷ lệ quy định trong thông tư liên bộ số 14-LB/TC/NH; có kế hoạch tự làm và được hạch toán riêng; sản xuất, kinh doanh có lãi. Trong khi thực hiện công tác tín dụng đối với kế hoạch tự làm của xí nghiệp, cần chú ý: a) Xí nghiệp phải có kế hoạch mua vật tư, nguyên vật liệu, ngân hàng chú trọng cho vay mua nguyên liệu từ nông, lâm nghiệp, hải sản do tập thể hoặc cá thể nông nghiệp sản xuất, giá cả phải theo khung giá Nhà nước hướng dẫn. Nếu vật tư, nguyên vật liệu mua thêm thuộc diện Nhà nước thống nhất quản lý thì về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước không cho vay; b) Sản phẩm của xí nghiệp tự làm phải bán cho cơ quan Nhà nước.
Phần sản phẩm được giữ lại, nếu xét thấy cần thiết đổi lấy vật tư phải được phép của bộ trưởng chủ quản (đối với xí nghiệp Trung ương) hoặc của chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh (đối với xí nghiệp địa phương) và các xí nghiệp phải có kế hoạch, hoặc hợp đồng tiêu thụ sản phẩm;
Phần dư nợ thiếu vật tư bảo đảm hoặc thuộc tài sản đơn vị mới không nhận vì không sử dụng được vào sản xuất, kinh doanh theo kế hoạch mới thì giám đốc xí nghiệp cũ có trách nhiệm giải quyết.