UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Số: 17/CT-UBND CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hải Phòng, ngày 04 tháng 7 năm 2007 CHỈ THỊ Về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008. Năm 2008 là năm thứ 3 triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, là năm nền kinh tế đất nước và thành phố tiếp tục hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, năm có tầm quan trọng tạo đà tăng trưởng cao và bền vững cho cả giai đoạn 2006-2010. Kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 có vị trí quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của các cơ quan, các tổ chức của Đảng và Chính quyền, đồng thời còn là định hướng quan trọng cho đầu tư, thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Để thực hiện tốt Chỉ thị số 733/CT-TTg ngày 12/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố yêu cầu các cấp, các ngành quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố, Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 phê duyệt Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020000, kế hoạch 5 năm 2006-2010, Thông báo số 113/TB-VPCP thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với lãnh đạo thành phố, tiếp tục đổi mới trên các mặt, từ tư duy chỉ đạo cải cách kinh tế đến nội dung, phương pháp xây dựng kế hoạch, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển kinh tế, khẩn trương xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 trên cơ sở Chỉ thị số 733/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và quán triệt đầy đủ những nhiệm vụ chủ yếu sau đây: A. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2008 I. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 1. Nhiệm vụ phát triển kinh tế Tạo các điều kiện cần thiết để nền kinh tế thành phố phát triển ổn định, bền vững và đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2008, tiếp tục tăng trưởng nhanh trong những năm tiếp theo. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng (GDP) 12,8 13,5%. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp; phấn đấu đạt giá trị gia tăng của ngành công nghiệp - xây dựng tăng 14 15%; giá trị gia tăng ngành dịch vụ tăng 13,5 14%; giá trị gia tăng của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4 5%. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Đa dạng hóa các hình thức thu hút vốn đầu tư và loại hình đầu tư, phát huy tốt nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng, thông tin, cơ sở hạ tầng nông thôn, xử lý chất thải, dịch vụ công cộng. Phát triển mạnh và quản lý tốt các hình thức đầu tư gián tiếp để đa dạng hóa nguồn đầu tư gắn với việc áp dụng những công cụ quản lý có hiệu quả, bảo đảm an toàn và ổn định kinh tế thành phố. Chuẩn bị tốt các điều kiện, mặt bằng và khởi công các dự án cơ sở hạ tầng trọng yếu của quốc gia và thành phố. Chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng, tổ chức lại hoạt động của các Ban Quản lý dự án; tăng cường công tác thanh tra nhằm bảo đảm chất lượng của công trình, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham ô, lãng phí trong đầu tư và xây dựng. Có biện pháp cơ bản tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp ở mức cao, bền vững. Phát triển những sản phẩm có lợi thế so sánh và có tiềm năng phát triển, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao gắn với phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp. Thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh, nâng cao tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP. Bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của ngành nông nghiệp, thủy sản trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ ngành. Triển khai nhanh chăn nuôi theo hướng tập trung, nuôi công nghiệp gắn với cơ sở chế biến tập trung và xử lý chất thải. Xây dựng các phương án chủ động phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả đất trồng trọt, ngăn chặn tình trạng để hoang hóa ruộng đất. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại; thực hiện các cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư; thúc đẩy xuất khẩu đi đôi với mở rộng thị trường và hiệu quả xuất khẩu. 2. Nhiệm vụ về xã hội Nâng cao năng lực khoa học công nghệ đi đôi với tăng cường tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiến tiến của thế giới vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Phát triển nhanh ngành công nghệ thông tin, trước hết đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong cải cách hành chính, trong quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích và tôn vinh các nhà khoa học có tài, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển. Đổi mới mạnh hơn nữa về công tác quản lý, nâng cao chất lượng các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, lao động thương binh và xã hội, văn hóa, thể thao đi đôi với việc thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực này. Thực hiện thí điểm chuyển đổi sở hữu một số cơ sở thuộc các lĩnh vực này, cổ phần hoá để xây dựng mô hình thực hiện trên diện rộng. Tổ chức triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; huy động, sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước và sự tham gia của cộng đồng dân cư để thực hiện. Giải quyết một cách tích cực và hiệu quả các vấn đề xã hội phát sinh (nếu có) trong quá trình thực thi cam kết WTO. Đẩy mạnh công tác giảm nghèo. Tiếp tục thực hiện chính sách trợ giúp người nghèo vươn lên như: khám chữa bệnh, hỗ trợ giáo dục, hỗ trợ nhà ở, cho vay vốn ưu đãi,... Tạo điều kiện cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội được hưởng các dịch vụ công của nhà nước. Đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chương trình phổ cập bậc trung học và nghề, xây dựng trường chuẩn quốc gia theo hướng tập trung, có trọng điểm; quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề, chú trọng đào tạo nghề kỹ thuật cao để đưa ra các giải pháp đồng bộ, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư và nguồn lực khác nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội đang quan tâm, bức xúc; đặc biệt là tình trạng tội phạm, ma túy, tai nạn giao thông. Kiểm soát tốc độ tăng dân số và số người sinh con thứ 3. 3. Nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển đô thị Tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (Chương trình Nghị sự 21 của thành phố Hải Phòng). Tiếp tục chỉnh trang mở rộng và phát triển đô thị; nâng cao chất lượng và đổi mới công tác quy hoạch; công tác quản lý đất đai, quản lý đô thị; tăng cường thuê tư vấn nước ngoài phù hợp với điều kiện thành phố. Hoàn chỉnh quy hoạch thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại; khi xây dựng các chương trình, các dự án, quy hoạch cần
căn cứ bộ chỉ tiêu về phát triển bền vững về môi trường để đảm bảo sự phát triển ổn định, lâu dài. Giải quyết cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở khu vực các nhà máy, các khu công nghiệp, các khu đông dân cư; cải tạo và xử lý môi trường trên các sông, hồ, ao, kênh mương bị ô nhiễm nặng; đẩy nhanh việc cải tạo kênh An Kim Hải thuộc dự án Nâng cấp đô thị. Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, sự biến động của khí hậu bất lợi đối với môi trường; đẩy nhanh tiến độ nâng cấp đê điều, đặc biệt là chương trình đê biển; ứng cứu kịp thời và khắc phục hậu quả xấu do thiên tai gây ra. Sử dụng có hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi trường ở các khu vực dự trữ sinh quyển, bảo tồn thiên nhiên, lưu vực các sông, nguồn nước ngọt, bãi triều ven biển, đảm bảo cân bằng sinh thái, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học. 4. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Việc cải cách hành chính trong thời gian tới phải hướng tới mục tiêu xây dựng nền hành chính công phục vụ nhân dân, minh bạch, trong sạch, dân chủ, hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước. Triển khai mạnh mẽ chương trình tổng thể cải cách hành chính, trước hết là đổi mới, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ; bộ máy cơ quan chuyên môn các cấp theo chỉ đạo của Chính phủ. Tiếp tục triển khai phân cấp quản lý đồng bộ, hợp lý. Thực hiện chế độ Thủ trưởng trong các cơ quan hành chính; phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, trước hết là các thủ tục liên quan đến đầu tư, đất đai, thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, các dịch vụ hành chính liên quan đến đời sống nhân dân. Thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai tại trụ sở quy chế, trình tự và các thủ tục hành chính rõ ràng, cụ thể. Triển khai thực hiện
Chương trình Chính phủ điện tử gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính, phù hợp với tiến trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước.
Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng với
Chương trình hành động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng, thu, chi ngân sách nhà nước, quản lý tài chính công, công tác đề bạt và bố trí cán bộ. Tăng cường quản lý, giám sát thu nhập của cán bộ, công chức, nhất là những người có chức, có quyền.
Chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và các chương trình, dự án quan trọng khác được xác định trên cơ sở tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển theo Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan.
Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ngày 26/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ; bảo đảm dự toán ngân sách được xây dựng đúng chế độ, tiết kiệm, hiệu quả. Đẩy mạnh việc thực hiện quản lý chi theo Nghị định 130/NĐ-CP và Nghị định 43/NĐ-CP đối với các đơn vị quản lý nhà nước, sự nghiệp và xã hội hóa.