QUYẾT ĐỊNH V/v Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011, định hướng đến năm 2020 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Luật Khoáng sản ngày 20/3/1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản ngày 16/6/2005;
Căn cứ Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản;
Căn cứ Quyết định số 73/2006/QĐ-TTg ngày 04/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020;
Căn cứ Nghị quyết số 57/2006/NQ-HĐND ngày 17/5/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 định hướng đến năm 2015;
Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020;
Căn cứ Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Văn bản số 157-KL/TU ngày 26/6/2007 về Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020;
Căn cứ Nghị quyết số 110/2007/NQ-HĐND ngày 16/7/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020;
Xét đề nghị của Sở Công nghiệp,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011, định hướng đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
1. Đánh giá về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng công tác điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ:
a) Đánh giá về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản:
Tỉnh Phú Thọ có địa hình tự nhiện chia cắt khá phức tạp, hệ thống sông, ngòi được phân bố rộng khắp trên địa bàn. Khí hậu nhiệt đới, gió mùa; có nhiều hệ tầng địa chất, kiến tạo địa chất được khống chế bởi các hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và phương Đông Bắc - Tây Nam.
Tài nguyên khoáng sản đa dạng, có một số khoáng sản có trữ lượng, chất lượng cao. Theo tài liệu điều tra địa chất, tỉnh Phú Thọ có 23 loại khoáng sản, xác định 164 mỏ và điểm mỏ quặng kim loại, phi kim loại, khoáng chất công nghiệp, quặng phóng xạ, quặng quý hiếm, nước khoáng nóng … một số khoảng sản có lợi thế cạnh tranh như: Kaolin, Fenspat, quặng sắt, quarzit, talc…
Phú Thọ có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao thương. Giao thông được phân bố đều trên các tiểu vùng, có nhiều tuyến quốc lộ chạy qua. Ngành công nghiệp sớm phát triển, kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng, khả năng đầu tư và thu hút đầu tư của tỉnh có chiều hướng phát triển tích cực.
Nguồn nhân lực, các dịch vụ vận tải, điện nước, bưu chính viễn thông, tín dụng ngân hàng, xuất nhập khẩu và cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản khá thuận lợi.
b) Thực trạng công tác điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ:
Công tác nghiên cứu, điều tra địa chất khoáng sản: Tỉnh đã phối hợp với các cơ quan chức năng của Trung ương tiến hành công tác nghiên cứu, điều tra địa chất khoáng sản, qua đó đã cơ bản nắm được cấu trúc địa chất, đặc điểm sinh khoáng và sơ bộ phát hiện đánh giá được khả năng triển vọng của khoáng sản chủ yếu.
Công tác tìm kiếm, thăm dò khoáng sản được thực hiện trên nhiều cấp độ từ năm 1960 đến năm 2002, có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn, đã góp phần hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp khai khoáng của tỉnh.
Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản triển khai theo sự phân bố của mỏ khoáng sản và phân cấp của Nhà nước, thành phần tham gia khai thác, chế biến khoáng sản chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế.
c) Đánh giá chung: Là tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú về chủng loại, có trữ lượng đáng kể và chất lượng tốt. Việc quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phù hợp với quy hoạch chung của cả nước. Việc đầu tư khai thác gắn với chế biến, đặc biệt là chế biến sâu bước đầu được coi trọng và góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển, nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động.
Tuy nhiên, tiềm năng khoáng sản chưa được đánh giá đầy đủ, mức độ kiểm tra, nghiên cứu địa chất được tiến hành không đồng đều, mức độ nghiên cứu còn hạn chế, công nghệ, máy móc thiết bị thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản còn lạc hậu, quy mô nhỏ, năng suất lao động thấp, giá thành cao, sản phẩm chế biến khả năng cạnh tranh thấp; hầu hết các mỏ khai thác khoáng sản chưa quan tâm đúng mức tới môi trường. Lực lượng lao động trong ngành khai thác, chế biến khoáng sản chủ yếu là lao động phổ thông, chưa được đào tạo, tỷ lệ lao động có tay nghề còn ở mức thấp. Công tác quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ, có nơi bị buông lỏng, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép còn xảy ra ở một số địa phương, lợi ích kinh tế chưa được giải quyết hợp lý.
2. Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020:
a) Quan điểm quy hoạch:
Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản của tỉnh phải phù hợp với Luật Khoáng sản, phù hợp với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và các Quy hoạch chuyên ngành có liên quan đã được phê duyệt.
Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp khai khoáng với công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến phù hợp với từng loại khoáng sản. Gắn khai thác với chế biến tăng cường chế biến sâu để tiết kiệm tài nguyên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm ở trong nước và xuất khẩu.
Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân trong vùng khoáng sản. Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng trong từng giai đoạn, giữ gìn các di sản văn hóa.
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản đi đôi với lập lại trật tự trong hoạt động khoáng sản, nhằm phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến theo quy hoạch một cách bền vững.
b)
Mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu cụ thể:
Điều 2
Tổ chức thực hiện:
Sở Công nghiệp chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành, các huyện, thành, thị tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch.
+ Công bố công khai Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 theo quy định.
+ Chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, các sở, ban, ngành;UBND các huyện, thành, thị tổ chức lập kế hoạch phân vùng thăm dò, khai thác chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng 2020.
+ Giúp UBND tỉnh quản lý về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản bảo đảm sự phát triển bền vững theo quy hoạch và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên.
Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp với Sở Công nghiệp, UBND các huyện, thành, thị trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Tham mưu cho UBND tỉnh cấp, gia hạn hoặc thu hồi giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh theo quy định của pháp luật; tổ chức điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá nguồn tài nguyên khoáng sản, khoanh vùng cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản. Quản lý các hoạt động khoáng sản gắn với công tác bảo vệ môi trường.
Sở Khoa học và Công nghệ: Quản lý các hoạt động đánh giá, thẩm định, giám định, tư vấn và chuyển giao công nghệ trên địa bàn tỉnh với các dự án đầu tư trong tỉnh theo phân cấp, tổng hợp và đánh giá trình độ công nghệ của các tổ chức kinh tế trong tỉnh.
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính: Cân đối ngân sách và đề xuất giải pháp huy động mọi nguồn lực cho công tác điều tra, nghiên cứu tài nguyên khoáng sản thuộc phạm vi tỉnh quản lý, tổ chức xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư có năng lực đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.
UBND các huyện, thành, thị và các xã, phường, thị trấn: có trách nhiệm quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn theo quy định; ngăn chặn tình trạng khai thác, chế biến và tiêu thụ khoáng sản trái phép; tổ chức tuyên truyền giáo dục người dân nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản có trên địa bàn quản lý; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đến đầu tư tại địa bàn quản lý của địa phương.
Điều 3
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan: Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, UBND các huyện, thành, thị và các đơn vị có liên quan căn cứ Quyết định thực hiện.