CHỈ THỊ CỦA UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG V/v quản lý đối với hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên nước Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trường. Thời gian qua, việc thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn chưa hợp lý, nhiều trường hợp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, việc quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này của các cơ quan chức năng còn kém hiệu quả. Để triển khai thực hiện Luật tài nguyên nước (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-1999), Pháp lệnh thuế tài nguyên (sửa đổi) và Nghị định số 68/1998/NĐ-CP ngày 03-9-1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên, UBND thành phố chỉ thị: 1- Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Sở Thủy sản - Nông lâm, Sở Văn hóa - Thông tin, các cơ quan thông tân báo chí, các đơn vị, đoàn thể có liên quan xây dựng kế hoạch và triển khai tuyên truyền về những văn bản pháp luật có liên quan đến việc thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên nước, làm cho mọi tổ chức, cá nhân hiểu và nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện pháp luật về quản lý, bảo vệ tài nguyên nước. 2- Tất cả các tổ chức, cá nhân hành nghề khoan giếng nước ngầm đều phải có giấy phép của UBND thành phố Đà Nẵng hoặc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và chỉ được phép tiến hành hoạt động khoan
sau khi được cấp giấy phép. Các tổ chức, cá nhân khoan địa chất, địa chất công trình trước khi tiến hành hoạt động khoan phải báo cho cơ quan quản lý tài nguyên nước của thành phố để thực hiện việc giám sát quá trình khoan và xử lý lấp lỗ khoan đúng quy trình, quy phạm, bảo vệ các tầng chứa nước. 3- Tất cả các tổ chức, cá nhân đang khai thác tài nguyên nước (gọi chung là hộ khai thác nước) bao gồm nước mặt và nước ngầm mà chưa có giấy phép theo quy định, chậm nhất đến ngày 15-12-1998 phải làm xong thủ tục đăng ký công trình khai thác nước tại cơ quan quản lý Nhà nước để xin cấp giấy phép khai thác nước. Quá thời hạn trên, các hộ khai thác nước không thực hiện việc đăng ký công trình và lập hồ sơ xin phép khai thác nước sẽ bị đình chỉ khai thác nước và xử lý theo quy định của pháp luật. 4- Hộ khai thác nước thuộc diện phải đăng ký và xin cấp phép nêu tại điểm 3 trên đây, chậm nhất đến ngày 31-01-1999 phải lắp đặt xong thiết bị đo lường (đồng hồ nước) tại các công trình khai thác nưđc, có trách nhiệm ghi chép và báo cáo khối lượng nước khai thác, hỗ trợ và cung cấp trung thực các thông tin liên quan về tình hình khai thác nước cho cơ quan quản lý nước của thành phố. 5- Chi cục Quản lý nước và Phòng chông lụt bão thành phố là cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn thành phố, chịu trách nhiệm: - Tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn các hộ khai thác nước đăng ký kê khai các công trình khai thác nước; - Hướng dẫn lập hồ sơ và thẩm định hồ sơ xin phép khai thác nước; - Hướng dẫn và kiểm tra việc lắp đặt thiết bị đo khối lượng nước khai thác; - Điều tra, thống kê các hộ khai thác nước và tiến hành lập quy hoạch khai thác nước ngầm trên địa bàn thành phố. 6- Cục thuế thành phố có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Sở Thủy sản - Nông lâm, Sở Tài chính - Vật giá và các cơ quan liên quan xây dựng phương án và triển khai kế hoạch thu thuế tài nguyên nước theo Nghị định số 68/1998/NĐ-CP ngày 03-9-1998 của Chính phủ. Nhận được Chỉ thị này yêu cầu các ngành, các địa phương, cơ quan triển khai thực hiện ngay. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, phải phản ánh kịp thời về UBND thành phố để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.