CHỈ THỊ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2000. Chấp hành Chỉ thị số 17/1999/CT-TTg ngày 30/6/1999 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ kế hoạch và Đầu tư. Bộ Tài chính về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2000, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An yêu cầu Giám đốc các Sở, Ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Giám đốc các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế - xã hội trong tỉnh quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 2000 theo nội dung và tiến độ sau đây: - VỀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO Năm 2000 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm 1996-2000, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ khóa XIV và chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm 2001-2005. Vì vậy, việc xây dựng kế hoạch năm 2000 cần phải quán triệt các tư tưởng chỉ đạo sau đây: 1. Phải quán triệt và thấu suốt đường lối đổi mới của Đảng và các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, 5, 6 (lần 1) của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, các chương trình hành động của Tỉnh ủy Nghệ An thực hiện Nghị quyết TW4, TW5, TW6 (lần 1) và Nghị quyết 6 của Bộ Chính trị, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với khả năng và tình hình mớì. Chấm dứt sự giảm sút nhịp độ tăng trưởng kinh tế từng bước tạo đà cho sự phát triển bền vững, lảnh mạnh hóa lĩnh vực tài chính tiền tệ; xử lý tốt các vấn đề xã hội bức xúc, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. 2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách làm sống động môi trường đầu tư, cải thiện cơ cấu đầu tư theo hướng phát huy cao độ tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, lợi thế của từng ngành, từng sản phẩm, từng địa phương... kết hợp với việc thu hút mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế. Dành các cân đối lớn cho ưu tiên đầu tư phát triển có trọng điểm, trước hết là các mục tiêu mà Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ khóa XIV đá đề ra, các công trình có hiệu quả đáp ứng yêu cầu năm 2000 và chuẩn bị cho bước phát triển những năm sau. 3. Khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, bán, khoán các doanh nghiệ Nhà nước, tăng cường và đổi mới kinh tế hợp tác, tăng cường thực hiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư trong nước tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội. 4. Phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp chặt chẽ với củng cố quốc phòng, an ninh giữ vững, trật tự an toàn xã hội, đồng thời nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý Nhà nước trước hết là làm tinh gọn và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, tăng cường chủ động hợp tác giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện pháp luật, thể chế, xây dựng và chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch. - NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2000 A - Những vấn đề cần chú trọng trong kế hoạch phát triển kỉnh tế - xã hội năm 2000 a) Ưu tiên tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện và kinh tế nông thôn theo hướng an toàn về lương thực, đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản, hải sản và hàng hóa xuất khẩu. Ưu tiên đầu tư cho thủy lợi, phòng chống thiên tai, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống vào sản xuất đại trà... để chủ động đối phó với các diễn biến xấu của thời tiết, trước hết là tiết kiệm nước chống hạn có hiệu quả và tránh né giảm thiệt hại do lũ lụt. Tích cực chăm lo giải quyết tiêu thụ nông sản thực phẩm cho nông dân, tìm kiếm mở rộng và ổn định thị trường cho sản phẩm nông lâm thủy sản địa phương. b) Tập trung giải quyết khó khăn vướng mắc trong sản xuất công nghiệp địa phương nhằm phát huy tối đa năng lực hiện có. Đẩy mạnh sắp xếp tổ chức lại các doanh nghiệp Nhà nước theo hướng xúc tiến mạnh cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê và giao cho tập thể lao động... các doanh nghiệp Nhà nước loại nhỏ để tạo vốn đầu tư, nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doạnh. Tập trung vốn đầu tư chiều sâu cho một số doanh nghiệp Nhà nước trọng điểm đổi mới thiết bị công nghệ, tăng chất lượng sản phàm, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh. c) Thực hiện các cơ chế chính sách phù hợp nhằm kích cầu trong tiêu dùng, tiêu thụ hàng hóa sản phẩm của địa phương thiết thực thúc đẩy sản xuất giải quyết các ách tắc trước mắt và để tạo thế phát triển. Chăm lo phát triển thị trường trong tỉnh, chú trọng thị trường nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Vận dụng linh hoạt cơ chế bán hàng trả chậm, đầu tư ứng trước, hạ giá hàng tồn đọng, đầu tư bằng sản phẩm hàng hóa địa phương (vật liệu xây dựng, xi măng...) hỗ trợ lãi suất, lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu, bảo hộ hàng nội tỉnh... tích cực thúc đẩy sản xuất. d) Tăng cường quản lý sử dụng đầu tư các nguồn vốn Nhà nước thực sự có hiệu quả, thực hiện kích cầu trong đầu tư phát triển toàn xã hội. Đầu tư của ngân sách Nhậ nước tiếp tục tập trung cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, các xã dọc biên giới, dành một phần trả nợ XDCB (tỉnh, huyện, xã). Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn trên cơ sở thực hiện quy chế dân chủ cơ sở "dân bàn, dân làm" Nhà nước hỗ trợ. Thực hiện các quy chế mới ban hành về quản lý đầu tư và xây dựng, về tín dụng đầu tư của Nhà nước và phân cấp quản lý đầu tư theo hướng có hiệu quả, tiết kiệm và chống tiêu cực. e) Lành mạnh hóa nền tài chính địa phương, chỉ đạo chặt chẽ và linh hoạt thu ngân sách, không để thất thu và tồn đọng thuế. Kiểm soát chi ngân sách các cấp chặt chẽ theo dự toán được duyệt, đáp ứng nhu cầu chi tối thiểu. Đẩy mạnh hơn nữa thực hành tiết kiệm, chấp hành nghiêm các quy định của Chính phủ. Xóa bỏ dần các hình thức bao cấp qua ngân sách Nhà nước, mở rộng các hình thức xã hội hóa. Tích cực giải quyết tình trạng nợ tồn đọng ở mọi cấp mọi ngành trước hết là nợ XĐCB để lành mạnh hóa tài chính, ngân hàng, quỹ tín dụng và hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt là các khoản nợ của xã về xây dựng cơ sở hạ tầng. g) Tăng cường hoạt động khoa học công nghệ và môi trường theo hướng ứng dụng tiến bộ khoa học để đổi mới công nghệ kể cả công nghệ quản lý, tăng năng suất cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất công nghiệp để cạnh tranh được với hàng ngoại nhập và đạt tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu. h) Chăm lo giải quyết tốt các vấn đề về văn hóa xã hội bức xúc, thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia, nhất là chương trình xóa đói giảm nghèo trọng tâm là chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, giải quyết việc làm. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 về giáo dục và khoa học công nghệ, thực hiện tốt Luật giáo dục. Tiếp tục thực hiện rộng rãi chính sách xã hội hóa để xóa trường lớp tạm trong giáo dục. Chăm lo công tác y tế, văn hóa thông tin, xây dựng nếp sống văn minh... i) Tăng cường đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội, nhất là an ninh vùng biên giới, vùng biển; kiểm soát ngăn chặn buôn bán vũ khí và ma túy. Phát động toàn dân chống và bài trừ hiểm họa ma túy và buôn lậu. Tích cực chống tham nhũng tiêu cực và xử lý giải quyết tốt các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và tranh chấp đất đai. Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết về cải cách hành chính trước mắt tập trung vào các khâu: Thẩm định dự án đầu tư, dự toán xây dựng và
xét thầu, quyết toán công trình, cấp phát vốn ngân sách, cấp quyền sử dụng đất, thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, đăng ký hộ khẩu. Gắn chỉnh đốn Đảng với cải cách hành chính và kiện toàn sắp xếp bộ máy theo tinh thần Nghị quyết TW 7, nâng cao hiệu lực chấp hành pháp luật, giử gìn kỷ luật, kỷ cương trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội. B - Định hướng khung kế hoạch năm 2000 Mội số chỉ tiêu so với năm 1999: - Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng: 8-9% - Giá trị sản xuất nồng lâm ngư nghiệp tăng: 4-5% - Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng: 13-15% - Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng: 12-14% - Giá trị các ngành dịch vụ tăng: 10- 12% - Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng: 13- 15% - Tổng thu ngân sách Nhà nước nội tỉnh tăng: 10-12%o - Sản lượng lương thực quy thóc (82-85 vạn tấn) tăng: 9-10% - Mức giảm tỷ lệ sinh thô: 1-1,2% - Tỷ lệ hộ nghèo đói: dưới 15% - Tạo việc làm mới cho lao động tập trung: 5000-6000 người. Cs - Những yêu cầu cơ bản về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2000 1. Dự toán thu ngân sách Nhà nước phải được xây dựng trên cơ sở tính đúng, tính đủ các khoản thu theo quy định của các luật thuế và chế độ thu hiện hành, khai thác mọi nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả, chú trọng tạo dựng cơ chế khuyến khích phát triển mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc khai thác các nguồn thu khác để tăng thu ngân sách đáp ứng nhu cầu chi. - Phấn đấu đạt tỷ lệ động viên thuế và phí vào ngân sách chiếm 10-11% GDP - Bảo đảm chi thường xuyên ở mức cần thiết hợp lý và tiết kiệm, dành dụm ưu tiên cho đâu tư phát triển trên 10% tổng chi ngân sách. - Tốc độ tăng thu phải lớn hơn tốc độ tăng chi. Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện đồng bằng ven biển phấn đấu vươn lên tự trang trải nhu cầu chi thường xuyên theo tinh thần triệt để tiết kiệm và có thêm chi đầu tư phát triển. 2. Dự toán ngân sách Nhà nước được lập từ cơ sở phải có tính khả thi, bảo đảm tính hiện, thực đúng chế độ, theo định mức thu, chi ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền ban hành, phù hợp với khả năng tăng trưởng sinh lời trong từng lĩnh vực, thực sự khuyến khích sản xuất và chăm lo đầu tư phát triển. Thực hiện quy trình, phương thức xây dựng và quyết định dự toán ngân sách Nhà nước theo Luật ngân sách Nhà nước, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ngân sách Nhà nước. Cụ thể là: UBND các phường (xã) lập dự toán ngân sách của cấp mình gửi cấp huyện (thành phố, thị xã) để tổng hợp UBND huyện (thành phố, thị xã) lập dự toán ngân sách của cấp mình gửi cấp tỉnh để tổng hợp; UBND tỉnh lập dự toán ngân sách của tỉnh trình HĐND và Chính phủ. 3. Chi ngân sách Nhà nước năm 2000 bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên với tinh thần tiết kiệm chặt chẽ hơn nữa nhằm đáp ứng những yêu cầu tối thiểu, dành tỷ lệ thích đáng cho đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu trước mắt và chuẩn bị gối đầu cho các năm sau 2000. Hướng bố trí chủ yếu là tập trung ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm, vốn đối ứng cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài theo tiến độ đã ký kết, dành một phần vốn xử lý nợ các công trình XDCB (kể cả xã, phường, thị trấn) theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; Ưu tiên bố trí cho các công trình xây dựng dở dang và các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2000. Rà soát quy hoạch, chỉ bố trí khởi công những công trình thực sự cần thiết, bức xúc và chuẩn bị tiền đề cho kế hoạch 2001- 2005 và đảm bảo các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng tại nghị định 52/1999/NĐ.CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ. Có cơ chế quản lý chặt chẽ, sử dụng vốn đầu tư phát triển có hiệu quả các nguồn vốn được để lại theo Nghị quyết Quốc hội, các khoản thưởng vượt thu thuế XNK, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nội địa và nhập khẩu (không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu). Phải có kế hoạch huy động nhiều nguồn vốn, không ỷ lại vào ngân sách Nhà nước, tập trung hoàn thành các mục tiêu đã đề ra đúng tiến độ. UBND các cấp, Giám đốc các ngành, các doanh nghiệp chù động chăm lo tìm nguồn cân đối vốn đầu tư từ nhiều nguồn: Tín dụng đầu tư, vốn liên doanh liên kết, vốn tự có và coi như tự có, vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn trong nước và nước ngoài nước). Khuyến khích các ngành, địa phương và doanh nghiệp lập dự án khả thi, thu hút đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh xuất khẩu. UBND tỉnh tiếp tục dành nguồn vốn thích đáng trong ngân sách địa phương cho công tác chuẩn bị đầu tư nhằm hỗ trợ khuyến khích nhiều dự án có chất lượng, chủ động trong kế hoạch đầu tư và thu hút được nhiều vốn ODA, FDI và tín dụng đầu tư. 4. Dự toán chi thường xuyên được xây dựng ở mức cần thiết, hợp lý, tiết kiệm. Ưu tiên chi giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, môi trường, bố trí dự phòng ngân sách đúng mức quy định tại Nghị định 87/CP ngày 19-12-1996 của Chính phủ về quản lý, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước và Nghị định 51/CP ngày 28-7-1998 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 87/CP. Thực hiện nghiêm pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chống tham nhũng, Quyết định 122/1999/TTg ngày 10-5-1999 của Thủ tướng Chính phủ về quy định sử dụng xe ô tô con, nhà công vụ, công sở, mua sắm thiết bị đắt tiền và quyết định 1229/QĐ.UB hiện hành quy định tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quản lý các đơn vị hành chính sự nghiệp, tiết kiệm các khoản chi chưa cần thiết và tiếp tục giữ lại 10% dự toán kinh phí chi thường xuyên (trừ lương và phụ cấp có tính chất lương) trước khi giao để dự phòng sử dụng vào chi các phát sinh trong năm. Xem
xét lựa chọn một số cơ quan đơn vị có điều kiện để áp dụng cơ chế khoán chi hành chính sự nghiệp. Tiếp tục thực hiện việc xét thưởng và cấp lại 50% số vượt dự toán thu đối với các đơn vị làm ăn đúng đắn có hiệu quả. - TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Về tiến độ và thời gian - Trước ngày 5 tháng 8 năm 1999: Tổ chức Hội nghị triển khai Chỉ thị về xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách năm 2000. - Trước ngày 30-8-1999: Các Sở, ngành, UBND các huyện (thành phố, thị xã) phải có văn bản báo cáo kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách 2000 gửi Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá và đăng ký dự toán thu với Cục Thuế Nhà nước. Sở Tài chính - Vật giá phối hợp vói Cục Thuế Nhà nước hoàn thành việc tập hợp và lập dự toán ngân sách cân đối thu chi trình cấp có thẩm quyền và gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng với Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm tổng hợp, lập báo cáo kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2000 trình UBND tỉnh xem xét, xin ý kiến của Thường vụ Tỉnh ủy kịp trình Chính phủ trước 20-8-1999. - Từ giữa tháng 8 đến hết tháng 8/1999: Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Tài chính- Vật giá, Cục Thuế Nhà nước và các ngành liên quan triển khai làm việc cụ thể với các ngành, địa phương, một số doanh nghiệp trọng điểm... và báo cáo với các Bộ ngành TW theo ngành dọc của mình. Phấn đấu hoàn thành việc giao chỉ tiêu kế hoạch 2000 (toàn diện) vào cuối tháng 12/1999. 2. Về phân công thực hiện: Để triển khai thực hiện xây dựng và tổng hợp kế hoạch 2000 có chất lượng và đúng tiến độ, UBND tỉnh giao trách nhiệm: a) Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp chặt chẽ với Sở Tài chính- Vật giá, Cục Thuế Nhà nước, Cục Đầu tư phát triển chủ trì hướng dẫn các ngành, địa phương và doanh nghiệp tính toán bố trí kế hoạch đạt yêu cầu, bảo đảm cân đối tích cực, vững chắc và tổng hợp toàn diện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2000 trình UBND tỉnh, Tỉnh ủy xem xét, kịp báo cáo Chính phủ và trình HĐND tỉnh. b) Giao Sở Tài chính - Vật giá chủ trì, phối hợp với Cục Thuế Nhà nước, Sở Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các ngành; địa phương và doanh nghiệp lập dự toán ngân sách năm 2000 theo đúng quy định của luật Ngân sách Nhà nước trình UBND, HĐND xem xét, quyết định. c) Giao Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND huyện (thành phố, thị xã) phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá, Cục Thuế Nhà nước tổ chức chỉ đạo triển khai xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách của đom vị mình đạt nội dung đã nêu trong Chỉ thị này, đồng thời quan tâm chỉ đạo UBND các xâ (phường, thị trấn), các doanh nghiệp Nhà nước, các thành phần kinh tế thuộc ngành và địa phưomg hoàn thành việc xây dựng kế hoạch năm 2000 đúng tiến độ thời gian và có chất lượng. Việc tổ chức xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 2000 hết sức khẩn trưomg song đòi hỏi phải đảm bảo chất lượng. UBND tỉnh yêu cầu các Giám đốc Sở, Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Giám đốc các doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh các nội dung đã nêu trong Chỉ thị này, tổ chức chỉ đạo triển khai việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 2000 có chất lượng và đúng tiến độ.