Q UYẾ T ĐỊNH Về một số chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN -
Căn cứ Luật t ổ chức của HĐND và UBND (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 1999 c ủ a Chính ph ủ quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và Thông tư số 28/1999/TT-BLĐ-TB&XH ngày 15 tháng 11 năm 1999 của Bộ Lao động - TB&XH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 152/1999/NĐ-CP của Chính phủ; -
Căn cứ Đề án XKLĐ giai đoạn 2003 - 2005 đã được UBND t ỉ nh phê duyệt ngày 10 tháng 02 năm 2003; -
Xét đề nghị của ông Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số 252 TT/LĐ - TB&XH ngày 01 tháng 04 năm 2003; QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Nay quy định một số chính sách khuyến khích về XKLĐ nhằm đẩy mạnh công tác XKLĐ thực hiện mục tiêu chương trình GQVL - XĐGN thời kỳ 2003 - 2005 của tỉnh Nghệ An.
1. Đối tượng áp dụng:
Đối tượng áp dụng Quyết định này là các doanh nghiệp, các Trung tâm DVVL, các tổ chức trực tiếp tuyển lao động Nghệ An đi XKLĐ; hoặc các đơn vị được phép làm dịch vụ cung ứng lao động Nghệ An đi XKLĐ (sau đây gọi chung là các đơn vị XKLĐ) và người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
a) Các đơn vị XKLĐ bao gồm:
+ Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động chuyên doanh đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài trực tiếp tuyển lao động Nghệ An đi XKLĐ.
+ Doanh nghiệp, Trung tâm dịch vụ việc làm, UBND các xã, phường, thị trấn không có giấy phép hoạt động chuyên doanh nhưng có hợp đồng nhận thầu, hợp đồng cung ứng lao động phù hợp với ngành nghề phía đối tác yêu cầu.
b) Người lao động và chuyên gia (sau đây gọi chung là người lao động) đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các hình thức sau đây:
+ Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liên doanh, liên kết ở nước ngoài và đầu tư nước ngoài;
+ Thông qua các đơn vị làm công tác XKLĐ.
+ Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký với người sử dụng lao động ở nước ngoài.
2. Chính sách hỗ trợ
a) Các đơn vị XKLĐ khi có nhu cầu thông báo tuyển lao động của Nghệ An đi XKLĐ trên các phương tiện thông tin của tỉnh (Đài Phát thanh và Truyền hình, Báo Nghệ An) được Sở Lao động - TB và XH Nghệ An thẩm định các nội dung pháp lý đảm bảo và giới thiệu thì được miễn phí quảng cáo. Mỗi đợt thông báo tuyển lao động cho 01 hợp đồng XKLĐ không quá 3 lần.
b) Đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài:
+ Người lao động thuộc diện chính sách (bản thân là con thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con bệnh binh, con liệt sỹ, người lao động ở vùng sâu, vùng xa và thuộc các hộ gia đình nghèo) được hỗ trợ chi phí đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng.
+ Người lao động được tuyển lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được các đơn vị XKLĐ tạo điều kiện giải quyết các thủ tục về vay vốn tín dụng.
3. Mức hỗ trợ
a) Mức hỗ trợ cho lao động thuộc diện chính sách đi XKLĐ về đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng không quá 50% chi phí đào tạo và giáo dục định hướng do Cục QLLĐ với nước ngoài thuộc Bộ Lao động - TBXH quy định (chỉ tính theo số lượng lao động thực tế đi XKLĐ).
b) Số lao động thuộc diện chính sách trên sau khi được đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng tại đơn vị mà không đi XKLĐ được thì được hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng nhưng theo quy định sau:
+ Do đơn vị làm công tác XKLĐ tổ chức đào tạo nhưng không đưa đi được thì đơn vị đó chịu trách nhiệm chi trả 50% chi phí đào tạo, ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% còn lại.
+ Đơn vị làm công tác XKLĐ tổ chức đào tạo đưa đi được nhưng do cá nhân người lao động không đủ điều kiện (sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn thì ngân sách sẽ hỗ trợ 100%).
4. Mức khen thưởng:
a) Điều kiện để được xét khen thưởng:
+ Lao động các đơn vị đưa đi XKLĐ phải đảm bảo các yêu cầu về trình độ chuyên môn kỹ thuật theo yêu cầu của phía đối tác; người lao động phải được học ngoại ngữ và giáo dục định hướng trước lúc đi theo chương trình của Cục quản lý lao động với nước ngoài quy định.
+ Số lao động các đơn vị đưa đi XKLĐ có đủ việc làm, thu nhập lớn hơn hoặc bằng mức tiền lương đã ký trong hợp đồng; số lao động thực hiện tốt hợp đồng đã ký với phía đối tác ít nhất từ 97% trở lên so với tổng số lao động mà đơn vị đã đưa đi.
b) Mức thưởng:
+ Đối với các đơn vị làm công tác XKLĐ thuộc tỉnh quản lý trực tiếp ký hợp đồng XKLĐ với phía đối tác nước ngoài: Nếu đưa được từ 500 trở lên/năm (lao động của Nghệ An) đi làm việc ở nước ngoài được UBND tỉnh xét khen thưởng 10.000.000,0 đồng, nếu tăng thêm thì 100 lao động/năm tăng thêm thì được xét thưởng tiếp 2.000.000,0 đồng.
+ Đối với các đơn vị làm công tác XKLĐ thuộc tỉnh quản lý nhưng không trực tiếp ký hợp đồng XKLĐ với phía đối tác nước ngoài mà làm dịch vụ cung ứng nếu đưa được từ 500 lao động trở lên/năm (lao động của Nghệ An) đi làm việc ở nước ngoài được UBND tỉnh xét khen thưởng 5.000.000,0 đồng; nếu tăng thêm thì 100 lao động/năm tăng thêm thì được xét thưởng tiếp 1.000.000,0 đồng.
+ Đối với các xã (phường): Nếu cung ứng cho các đơn vị làm công tác XKLĐ được từ 100 lao động trở lên/năm (lao động thuộc các xã, phường) đi XKLĐ thì được UBND tỉnh xét khen thưởng 2.000.000,0 đồng, nếu tăng thêm thì 50 lao động/năm tăng thêm thì được xét thưởng tiếp 1.000.000,0 đồng.
+ Đối với các đơn vị làm công tác XKLĐ không thuộc tỉnh quản lý nhưng trực tiếp về tuyển lao động Nghệ An đi XKLĐ: Nếu đưa được 1.000 lao động trở lên/năm (lao động của Nghệ An) đi XKLĐ được UBND tỉnh Nghệ An xét khen thưởng 10.000.000,0 đồng, nếu tăng thêm thì 200 lao động/năm tăng thêm thì được xét thưởng tiếp 1.000.000,0 đồng.
5. Nguồn kinh phí hỗ trợ, khen thưởng
Nguồn kinh phí hỗ trợ, khen thưởng cho các đơn vị làm công tác XKLĐ và người lao động đi XKLĐ được trích từ các nguồn hàng năm:
+ Ngân sách tỉnh
+ Quỹ GQVL của ngân sách tỉnh
+ Trích một phần từ nguồn đào tạo nghề ngắn hạn của tỉnh
+ Các nguồn khác nếu có.
6. Quản lý chi trả
Sở Tài chính Vật giá căn cứ vào số lượng lao động thuộc diện chính sách được đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng và báo cáo kết quả của Sở Lao động - TBXH về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài của các đơn vị làm công tác XKLĐ để chuyển tiền qua Sở Lao động - TBXH để chi cho các đơn vị; các đơn vị thực hiện chi trả và quyết toán với Sở Lao động - TBXH theo quy định của chế độ tài chính.
Điều 2
Tổ chức thực hiện
1. Sở Lao động - TB&XH:
Sở Lao động - TBXH có trách nhiệm thẩm định tổng hợp kết quả đưa lao động Nghệ An đi làm việc ở nước ngoài của các đơn vị làm công tác XKLĐ; phối hợp với Sở Tài chính Vật giá, Sở Kế hoạch Đầu tư lập kế hoạch, cân đối nguồn để hỗ trợ cho các đơn vị thực hiện đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng, quản lý kinh phí và thanh quyết toán tài chính theo chế độ hiện hành.
2. Sở Kế hoạch Đầu tư:
Chủ trì phối hợp với Sở Lao động - TBXH và Sở Tài chính Vật giá lập kế hoạch và cân đối nguồn từ Quỹ GQVL của tỉnh và trích một phần từ ngân sách tỉnh dành cho đào tạo nghề ngắn hạn để hỗ trợ cho các đơn vị đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động và kinh phí khen thưởng cho công tác XKLĐ.
3. Sở Tài chính Vật giá:
Phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu tư và Sở Lao động -TBXH cân đối nguồn và cấp phát, quản lý kinh phí theo chế độ tài chính và quy định tại văn bản này.
4. Các đơn vị làm công tác XKLĐ; UBND các huyện, thành, thị:
Có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để đáp ứng được yêu cầu của công tác đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng; hàng quý phải báo cáo về Sở Lao động - TBXH và các ngành có liên quan kết quả công tác XKLĐ và tình hình vay vốn (do đơn vị bảo lãnh để cho người lao động vay).
Các Sở Lao động - TBXH, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính Vật giá, các ngành có liên quan, UBND các cấp và các đơn vị làm công tác XKLĐ có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách khuyến khích XKLĐ của UBND tỉnh đến tận các xã, phường, thị trấn và người lao động. Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc kịp thời báo cáo về UBND tỉnh để bổ sung, xử lý.
Điều 3
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Các ông: Chánh Văn phòng HĐND - UBND tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - TB&XH, Giám đốc Sở Tài chính - Vật giá, Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành có liên quan và các đơn vị làm công tác XKLĐ, UBND các huyện, thành, thị chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.