CHỈ THỊ Về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 1998 Chấp hành Chỉ thị 416/TTg ngày 14-6-1997 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 1998, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu Giám đốc các Sở, Ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Giám đốc các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế - xã hội trong tỉnh quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 1998 theo nội dung và tiến độ sau đây: I. Về tư tưởng chỉ đạo Năm 1998 là năm thứ 3 thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ khóa XIV, là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 1996-2000. Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch năm 1998 là: 1. Tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng với tốc độ cao, bền vững, tăng nhanh năng lực sản xuất mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW2, nhằm phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV đề ra. 2. Quán triệt và cụ thể hóa chủ trương cần kiệm để dây dựng đất nước, bằng các phương án kế hoạch, kiên quyết chống tư tưởng bảo thủ, bao cấp. Từng ngành, địa phương và cơ sở chủ động có phương án khả thi huy động và sử dụng vốn tối đa, có hiệu quả nguồn lực tại chỗ là chính, kết hợp với nguồn lực bên ngoài ưu tiên đầu tư phát triển theo chương trình và có trọng điểm, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng. 3. Chăm lo củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh, tăng cường kinh tế hợp tác và đổi mới hoạt động hợp tác xã, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế khác, mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội các năm sau với tốc độ cao hơn. 4. Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tiếp tục cải cách hành chính làm trong sạch và nâng cao hiệu lực bộ máy Nhà nước. Tổ chức thực hiên thắng lợi Nghị quyết Trung ương 3. II. Những nhiệm vụ, nội dung chủ yếu cần chú ý khi xây dựng kế hoạch năm 1998 1. Tập trung quán triệt và cụ thể hóa 6 nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch năm 1998 (heo Chỉ thị 416/TTg của Thủ tướng Chính phủ a) Tiếp tục thực hiện các giải pháp về đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, có sự chuyển biến về chất lượng và hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội hướng mạnh đầu tư cho sản xuất, kinh doanh để xuất khẩu, tạo thế và lực cho việc hoàn thành mục tiêu đến năm 2000. b) Tập trung khai thác tối đa các nguồn vốn đầu/ tư phát triển toàn xã hội, đặc biệt phải có quan điểm cân đối ngân sách mới, tích cực để đáp ứng nhu cầu và tiến độ đầu tư các công trình lớn và quan trọng, coi đây là điểm mấu chốt để hoàn thành kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản 5 năm 1996-2000 và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo. c) Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung đầu tư hướng về xuất khẩu và thực hiện các giải pháp đồng bộ khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu đủ vật tư nguyên liệu, công nghệ cho nhu cầu sản xuất, xây dựng và nhu cầu thiết yếu. Tranh thủ thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) và nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). d) Phát triển ổn định nền tài chính quốc gia, định hướng sử dụng có hiệu quả tài chính, tăng nguồn cho đầu tư phát triển, đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ bản. Sử dụng ngân sách một cách có hiệu quả trong tất cả các ngành, các cấp; tiết kiệm triệt để chi tiêu ngân sách. Động viên đúng mức thuế và phí vào ngân sách theo Nghị quyết Quốc hội. Tiếp tục đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng để đẩy mạnh huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu cho vay vốn trung, dài hạn và ngắn hạn; mở rộng và phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn, từng bước hình thành thị trường chứng khoán, ổn định chỉ số lạm phát ở mức hợp lý. e) Sắp xếp lại các chương trình quốc gia, tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn các chương trình và lĩnh vực văn hóa, xã hội, triển khai thực hiện tốt Nghị quyết TW2 về giáo dục - dào tạo và khoa học - công nghệ; đẩy nhanh việc thực hiện các mục tiêu về nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tạo thêm việc làm cho người lao động. Phát triển văn hóa thông tin, phủ sóng phát thanh - truyền hình; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngăn ngừa có hiệu quả và chống các tệ nạn xã hội. Tập trung sức nhiều hơn cho chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi và đồng bào dân tộc, chương trình xóa đói giảm nghèo, đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng còn khó khăn. g) Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh; phổ cập giáo dục pháp luật; đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế và an toàn xã hội để phát triển. Thực hiện tiếp chương trình cải cách hành chính quốc gia, đổi mới và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ các cấp theo tinh thần Nghị quyết TW3. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp chống tham nhũng và chống các hiện tượng tiêu cực xã hội. 2. Định hướng một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 1998 (so với năm 1997) - Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng: 14-15% - Giá trị sản xuất nống lâm ngư nghiệp tăng: 5-6% - Giá trị sản xuất công nghiệp tăng: 20-25% - Giá trị các ngành dịch vụ tăng: 20-22% - Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng: 30-35% - Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh tăng: 10-12% Trong đó thuế XNK tăng: 55-60% - Sản lượng lương thực quy thóc (khoảng 80 vạn tấn) tăng: 7% - Đầu tư phát triển toàn xã hội tăng: 22-25% - Giảm tỷ lệ sinh thô: 1-1,2% - Tạo việc làm mới cho lao động 5000-6000 người. 3. Một số yêu cầu cơ bản về nội dung chủ yếu của kế hoạch 1998 3.1. Về ngân sách Nhà nước: a) Về cân đối ngân sách: Dự toán thu ngân sách Nhà nước phải được xây dựng đúng pháp luật, bao quát và khai thác mọi nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả, chú trọng tạo dựng cơ chế khuyến khích phát triển mạnh mẽ sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc khai thác các nguồn thu khác để tăng thu ngân sách đáp ứng có hiệu quả mọi nhu cầu chi, coi trọng việc huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa - xã hội. Các cấp ngân sách cần quán triệt và phấn đấu: - Tỷ lộ động viên thuế và phí vào ngân sách chiếm 10-11% GDP - Bảo đảm chi thường xuyên ở mức cần thiết hợp lý và tiết kiệm, dành dụm ưu tiên cho đầu tư phát triển không dưới 20% tổng chi ngân sách. - Tốc độ tăng chi thường xuyên phải thấp thua tốc độ tăng chi đầu tư phát triển. Tốc độ tăng thu phải lớn hơn tốc độ tăng chi, phấn đấu từng cấp ngân sách vươn lên tự trang trải nhu cầu chi thường xuyên và từng bước có thêm chi đầu tư phát triển. b) Dự toán ngân sách Nhà nước phải được lập từ cơ sở, bảo đảm tính hiện thực, đúng chế độ, theo định mức thu, chi ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền ban hành. Thực hiện quy trình, phương thức xây dựng và quyết định dự toán ngân sách Nhà nước theo Luật ngân sách Nhà nước, Nghị định 87/CP của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành của TW và tỉnh. Cụ thể là: UBND các phường (xã) lập dự toán ngân sách của cấp mình gửi cấp huyện (thành phố, thị xã) để tổng hợp UBND huyện (thành phố, thị xã) lập dự toán ngân sách của cấp mình gửi cấp tỉnh để tổng hợp; UBND tỉnh lập dự toán ngân sách của tỉnh trình Chính phủ và HĐND tỉnh quyết định. c) Ưu tiên chi cho giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và môi trường, bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giải quyết các vấn đề bức xúc trong lĩnh vực xã hội trên cơ sở tiếp tục tổ chức sắp xếp bộ máy tinh gọn có hiệu lực. Bố trí chi quản lý hành chính hợp lý, tiết kiệm, tạm đình chỉ chi mua sắm xe ô tô con, thiết bị đắt tiền và xây dựng trụ sở mới trong các cơ quan quản lý nhà nước, đảng, đoàn thể bằng nguồn vốn ngân sách. d) Mọi khoản thu, chi ngân sách phải phản ánh đầy đủ và quản lý chặt chẽ thống nhất theo quy định của Nhà nước. Nghiên cứu trình HĐND xem
xét và ban hành các cơ chế chính sách, chế độ cụ thể thực hiện chủ trương huy động đóng góp của nhân dân xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Thực hiện quản lý thống nhất việc huy động và sử dụng các nguồn vốn cho phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, xã hội có hiệu quả, dân chủ, công khai. 3.2 Về đầu tư và xây dựng: a) Huy động mọi nguồn vốn lập trung cho đầu tư phát triển nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra đúng tiến độ. UBND các cấp, giám đốc các ngành các doanh nghiệp chủ động chăm lo tìm nguồn cân đối vốn đầu tư từ nhiều nguồn: Ngân sách, tín dụng đầu tư, nguồn ODA, vốn tự huy động, vốn liên doanh, vốn tự có của doanh nghiệp và vốn huy động trong dân, vốn tín dụng thương mại trung và dài hạn... trong đó vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn trong và ngoài nước) giành tập trung đầu tư cho những công trình hoặc hạng muc công trình trọng điểm và bức xúc. Chú trọng việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn thu về cấp quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, 50% thuế sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa, thu xổ số kiến thiết, thu thuế tài nguyên rừng... được đầu tư trở lại để xây dựng hạ tầng cho ngành và huyện (thành phố, thị xã) theo Nghị quyết của Quốc hội và HĐND tỉnh. b) Bố trí vốn xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 1998 (bao gồm cả tín dụng đầu tư) ưu tiên cho các công trình trọng điểm, dành đủ vốn đối ứng cho các dự án có vốn nước ngoài được bố trí trong kế hoạch của TW và tỉnh theo đúng tiến độ đã ký kết, chăm lo xây dựng hạ tầng miền núi vùng cao, sâu, xa trước hết là giao thông, điện, nước; ưu tiên đầu tư lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và môi trường. c) Chỉ xem
xét bố trí kế hoạch đầu tư cho công trình đã có đủ các điều kiện theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 42/CP và Quyết định 288/QĐ-UB của UBND tỉnh về quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Chấm dứt tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải, kéo dài, kém hiệu quả. d) Khuyến khích các ngành, địa phương và doanh nghiệp lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh xuất khẩu đúng hướng có chất lượng và hiệu quả. UBND tỉnh tiếp tục dành nguồn vốn thích đáng trong ngân sách địa phương cho công tác chuẩn bị đầu tư nhằm hỗ trợ khuyến khích nhiều dự án có chất lượng, chủ động trong kế hoạch đầu tư và thu hút được nhiều vốn ODA, FDI và tín dụng đầu tư. e) Đổi mới và cải tiến việc thẩm định hồ sơ chuẩn bị đầu tư, tổ chức đấu thầu (theo Quyết định 288/QĐ-UB ngày 28-01-1997, Quyết định 1494/QĐ-UB ngày 23-4-1997 của UBND tỉnh), thẩm định thiết kế, dự toán, cấp phát và thanh quyết toán vốn. III. Tổ chức thực hiện Để triển khai thực hiện xây dựng và tổng hợp kế hoạch 1998 có chất lượng và đúng tiến độ, UBND tỉnh giao trách nhiệm: 1. Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp chặt chẽ với Sở Tài chính - Vật giá, Cục Thuế Nhà nước, Cục Đầu tư phát triển chủ trì hướng dẫn các ngành, địa phương và doanh nghiệp tính toán bố trí kế hoạch đạt yêu cầu, bảo đảm cân đối tích cực, vững chắc và tổng hợp toàn diện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1998 trình UBND tỉnh, Tỉnh ủy xem xét, quyết định kịp báo cáo Chính phủ và trình HĐND tỉnh. 2. Giao Sở Tài chính - Vật giá chủ trì, phối hợp với Cục Thuế Nhà nước, Sở Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các ngành, địa phương và doanh nghiệp lập dự toán ngân sách 1998 theo đúng quy định của Luật ngân sách Nhà nước và Nghị định 87/CP của Chính phủ trình UBND và HĐND xem xét, quyết định. 3. Giao giám đốc các sở, Thủ trưởng các Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND huyện (thành phố, thị xã) phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá, Cục thuế nhà nước tổ chức chỉ đạo triển khai xây đựng kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách của đơn vị mình đạt nội dung đã nêu trong Chỉ thị này, đồng thời quan tâm chỉ đạo UBND các xã (phường, thị trấn), các doanh nghiệp Nhà nước, các thành phần kinh tế thuộc ngành và địa phương hoàn thành việc xây dựng kế hoạch năm 1998 đúng tiến độ thời gian và có chất lượng. 4. Tiến độ và thời gian: - Trong tháng 7-1997: Tổ chức Hội nghị triển khai Chỉ thị về xây đựng kế hoạch và dự toán ngân sách 1998. - Trước 10-8-1997: Các sở, ngành, UBND các huyện (thành phố, thị xã) phải hoàn thành và có văn bản báo cáo kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách 1998 gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính - Vật giá, Cục Thuế Nhà nước. Sở Tài chính - Vật giá phối họp với Cục thuế Nhà nước hoàn thành việc tập hợp và lập dự toán ngân sách cân đối thu chi trình cấp có thẩm quyền và gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định. Sở kế hoạch và Đầu tư cùng với Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm tổng hợp, lập báo cáo kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 1998 trình UBND tỉnh xem xét, xin ý kiến của Thường vụ Tỉnh ủy kịp trình Chính phủ trước 15-8- 1997. - Từ giữa tháng 8 đến hết tháng 8-1997: Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở tài chính - Vật giá, Cục thuế Nhà nước và các ngành liên quan triển khai làm việc cụ thể với các ngành, địa phương, một số doanh nghiệp trọng điểm... và báo cáo với các Bộ, ngành TW theo ngành dọc của mình. Phấn đấu hoàn thành việc giao chỉ tiêu kế hoạch 1998 (toàn diện) vào cuối tháng 12-1997. Trên đây là một số quy định cụ thể về việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 1998, UBND tỉnh yêu cầu các Giám đốc Sở, Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Giám đốc các doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh các nội duns đã nêu trong Chỉ thị này, tổ chức chỉ đạo triển khai việc xây dựng và tổng hợp kế hoạch năm 1998 có kết quả.