NGHỊ QUYẾT Về việc phê chuẩn dự toán ngân sách địa phương và phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh năm 2014, tỉnh Bình Phước HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC KHÓA VIII, KỲ HỌP THỨ TÁM
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;
Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Báo cáo số 237/BC-UBND ngày 21 tháng 11 năm 2013; Báo cáo thẩm tra số 89/BC-HĐND-KTNS ngày 25 tháng 11 năm 2013 của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Phê chuẩn dự toán ngân sách địa phương năm 2014 như sau:
1. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn: 4.000 tỷ đồng.
(Có biểu chi tiết kèm theo)
2. Tổng chi ngân sách địa phương: 6.055 tỷ 690 triệu đồng .
(Có biểu chi tiết kèm theo)
Điều 2
Phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh năm 2014 như sau:
Tổng chi ngân sách tỉnh là: 4.641 tỷ 128 triệu đồng, trong đó:
1. Chi trong cân đối ngân sách tỉnh: 2.628 tỷ 798 triệu đồng;
2. Các khoản chi được quản lý qua ngân sách nhà nước: 156 tỷ 300 triệu đồng;
3. Chi bổ sung cho ngân sách các huyện, thị xã: 1.856 tỷ 030 triệu đồng.
Điều 3
Để hoàn thành nhiệm vụ thu - chi ngân sách năm 2014, các ngành, các cấp cần triển khai thực hiện tốt các nội dung trọng tâm sau:
1. Lĩnh vực thu ngân sách
Dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2014 phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá sát khả năng thực hiện thu ngân sách năm 2013; các dự báo về tốc độ tăng trưởng sản xuất các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tình hình tiêu thụ, mức độ tồn kho các mặt hàng, sức mua và khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp; tình hình đầu tư, phát triển sản xuất - kinh doanh và hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu năm 2014; đồng thời, tính toán cụ thể các yếu tố tăng, giảm thu do thực hiện các Luật thuế mới sửa đổi, bổ sung (Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi), các khoản thu được miễn, giảm, gia hạn, điều chỉnh thuế suất theo các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ. Tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp; chỉ đạo quyết liệt chống thất thu, thu hồi số thuế nợ đọng từ các năm trước, các khoản thu từ các dự án đầu tư đã hết thời gian ưu đãi, các khoản thu được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán,...;
Tâp trung quản lý chặt chẽ các nguồn thu lớn từ các Công ty cao su, các Nhà máy thủy điện, các doanh nghiệp và hộ kinh doanh, chế biến nông sản, đặc biệt tập trung thanh tra, kiểm tra thuế chống thất thu, chống gian lận thương mại đảm bảo đạt tối thiểu 15% số doanh nghiệp đang quản lý (trong đó thanh tra đạt 2% và kiểm tra đạt 13%), kiểm tra chặt chẽ các doanh nghiệp thành lập nhưng không hoạt động sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về thuế theo chỉ đạo nêu tại công văn số 7527/BTC-CT ngày 15/6/2013 của Bộ Tài chính về việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về thuế;
Phân tích diễn biến tình hình nợ thuế của người nộp thuế, rà soát lại tất cả các khoản nợ thuế và kiên quyết áp dụng các biện pháp cưỡng chế, như: đăng tải các doanh nghiệp nợ đọng, chây ỳ trên các phương tiện thông tin đại chúng, cưỡng chế bằng hình thức trích tài khoản ngân hàng, tổ chức thu hồi nợ qua bên thứ 3 đối với các doanh nghiệp nợ đọng trên 90 ngày và các doanh nghiệp hết thời gian ưu đãi nhưng chưa nộp thuế vào ngân sách nhà nước, tiến hành kê biên tài sản, đình chỉ hóa đơn, đề xuất thu hồi mã số thuế và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
Trên cơ sở số giao dự toán thu năm 2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh cho các địa phương, các huyện, thị xã cần căn cứ khả năng và tình hình phát triển kinh tế năm 2014 của địa phương, đơn vị phấn đấu tăng thu một cách hợp lý theo tinh thần Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014.
2. Lĩnh vực chi ngân sách địa phương
Dự toán chi ngân sách năm 2014 được xây dựng trên cơ sở số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp và số bổ sung cân đối trong kỳ ổn định ngân sách 5 năm (2011 - 2015) nên tổng chi ngân sách năm 2014 không tăng so với ước thực hiện năm 2013. Vì vậy, để điều hành ngân sách bám sát theo dự toán được giao nhưng vẫn đảm bảo thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chi theo phân cấp; các địa phương, đơn vị khi xây dựng dự toán chi ngân sách năm 2014 dựa trên cơ sở các định hướng như sau:
a) Đối với chi đầu tư phát triển:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 phải bố trí tập trung, gắn với tái cơ cấu đầu tư công, tăng cường hiệu quả đầu tư của ngân sách nhà nước. Các Sở, ban, ngành và các địa phương khi xây dựng dự toán chi đầu tư phát triển phải gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 và chú ý các nội dung sau:
Kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã phê duyệt, chỉ được quyết định đầu tư khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách;
Rà soát các dự án, công trình để xác định danh mục các dự án ưu tiên đầu tư trong năm 2014 đảm bảo tập trung, hiệu quả. Trong đó:
+ Tập trung vốn cho các dự án, công trình đã hoàn thành, bàn giao, đưa vào sử dụng trong năm 2013 nhưng chưa bố trí đủ vốn; quyết liệt thực hiện xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản theo Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ;
+ Ưu tiên vốn cho các dự án quan trọng, cấp bách dự kiến cần phải hoàn thành năm 2014 (theo tiến độ trong quyết định đầu tư, khả năng cân đối vốn và khả năng thực hiện trong năm 2014), các công trình chuẩn bị chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa X; vốn đối ứng cho các dự án ODA theo tiến độ thực hiện dự án; các dự án sử dụng vốn trái phiếu chính phủ giai đoạn 2012-2015 nhưng chưa được bố trí đủ vốn từ nguồn trái phiếu chính phủ để hoàn thành dự án.
Thu hồi các khoản vốn ứng đến hạn phải trả;
Vốn còn lại bố trí cho các dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt; chỉ lập dự toán chi đầu tư cho dự án mới thật sự cấp bách đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách và phải đủ thủ tục đầu tư theo quy định; việc bố trí vốn phải đảm bảo dự án nhóm C hoàn thành trong 3 năm, nhóm B hoàn thành trong 5 năm.
b) Đối với chi thường xuyên:
Xây dựng dự toán chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, thể dục - thể thao, du lịch, văn hóa - thông tin, môi trường theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, ưu tiên chi quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; đảm bảo chi an sinh xã hội; chi quản lý hành chính nhà nước chặt chẽ, tiết kiệm. Các Sở, ngành và các địa phương căn cứ nhiệm vụ chính trị, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 của từng địa phương, đơn vị xây dựng dự toán chi thường xuyên trên cơ sở định mức phân bổ chi thường xuyên theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và chính sách, chế độ cụ thể đã được cấp có thẩm quyền ban hành. Trong đó, chi tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương tính theo mức tiền lương cơ sở 1.150.000 đồng/tháng, các khoản trích theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn) thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế, lộ trình điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn;
Rà soát các chương trình, đề án để lồng ghép, giảm bớt sự trùng lắp, chồng chéo, lãng phí. Sắp xếp, cơ cấu lại nhiệm vụ chi phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước. Các cơ quan, đơn vị, và các địa phương phân định rõ loại dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công thực hiện, loại dịch vụ do các đơn vị ngoài công lập thực hiện; xây dựng khung giá, phí dịch vụ các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng có phân loại để điều chỉnh như: loại đơn vị có thể điều chỉnh giá, phí để tính đủ tiền lương; loại đơn vị có thể điều chỉnh giá, phí tính đủ tiền lương, một phần hoặc toàn bộ chi phí quản lý và khấu hao tài sản cố định. Trên cơ sở đó, phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo các mức giá, phí để xác định mức hỗ trợ từ ngân sách phù hợp;
Các địa phương, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng ngân sách lập dự toán chi thường xuyên đúng tính chất nguồn kinh phí, triệt để tiết kiệm, đặc biệt là dự toán chi mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt tiền, hạn chế tối đa vế số lượng và quy mô tổ chức lễ hội, hội nghị, hội thảo, tổng kết, lễ ký kết, khởi công, phong tặng danh hiệu, tiếp khách, đi công tác trong và ngoài nước và các nhiệm vụ không cần thiết, cấp bách khác; dự toán chi cho các nhiệm vụ này không tăng so với số thực hiện năm 2013 (sau khi đã tiết kiệm 30% dự toán năm 2013);
Xây dựng dự toán chi sự nghiệp kinh tế trên cơ sở khối lượng nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và chế độ, định mức chi ngân sách quy định; tập trung bố trí chi cho những nhiệm vụ quan trọng như: duy tu bảo dưỡng hệ thống hạ tầng kinh tế trọng yếu (giao thông, thủy lợi,…) để tăng thời gian sử dụng và hiệu quả đầu tư; kinh phí thực hiện công tác quy hoạch; thực hiện nhiệm vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công; nhiệm vụ đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật về đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ trong tổ chức triển khai thực hiện.
Điều 4
Giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện; Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, kỳ họp thứ tám thông qua ngày 06 tháng tháng 12 năm 2013 và có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày thông qua.