NGHỊ QUYẾT Về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 11 Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG KHÓA VIII - KỲ HỌP THỨ 11
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004; Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 11, Hội đồng nhân dân tỉnh, khóa VIII, QUYẾT NGHỊ: I. Hội đồng nhân dân tỉnh nhận thấy: - Nội dung chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh năm 2014, phản ánh kịp thời những vấn đề mà cử tri quan tâm; không khí chất vấn thẳng thắn, nội dung chất vấn, đối thoại với tinh thần trách nhiệm và xây dựng cao. - Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời thẳng thắn, đúng trọng tâm, làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức; đề ra những giải pháp chủ yếu để giải quyết từng vấn đề cụ thể, cơ bản giải đáp được các vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đặt ra. II. Hội đồng nhân dân tỉnh ghi nhận các giải pháp mà Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra khi trả lời chất vấn trước Hội đồng nhân dân tỉnh, cụ thể như sau: 1. Về việc khắc phục tình trạng nước biển xâm thực vào đất liền - Thực hiện Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 25/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục đề nghị Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung kế hoạch vốn để đầu tư các hạng mục còn lại nhằm đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả công trình. - Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập dự án công trình “Giảm sóng, chống xói lở, gây bồi bảo vệ đai rừng phòng hộ ven biển thuộc huyện Gò Công Đông”, với chiều dài khoảng 17 km, từ nguồn vốn hỗ trợ của
Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho ý kiến về giải pháp kỹ thuật thực hiện công trình trên và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng ý, trước mắt chỉ thực hiện thử nghiệm một đoạn với chiều dài khoản 1.400m (thuộc xã Tân Điền). Tổng mức đầu tư dự án khoảng 60 tỷ đồng.
Điều 18 của Quyết định, Ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp với các ngành chức năng quy hoạch địa điểm chăn nuôi, giết mổ và ấp trứng gia cầm trên địa bàn, trên cơ sở đó hướng dẫn nhân dân thực hiện tốt các hoạt động chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường:
Trường hợp hoạt động chăn nuôi, giết mổ, sơ chế, mua bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật và ấp trứng gia cầm nằm trong quy hoạch thì phải đảm bảo không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, môi trường sinh thái và điều kiện vệ sinh thú y.
Đối với hoạt động chăn nuôi, giết mổ, sơ chế, mua bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật và ấp trứng gia cầm không nằm trong quy hoạch thì phải xây dựng lộ trình di dời đến vùng quy hoạch hoặc chuyển đổi nghề nhằm ổn định cuộc sống.
7. Về việc chuyển mục đích sử dụng đất lúa ở những vùng quy hoạch chuyển đổi đã được Chính phủ phê duyệt
Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ về việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa và xét duyệt của Chính phủ theo Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 06/01/2014 của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của tỉnh Tiền Giang như sau:
Đối với hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất khác mà hiện trạng đã chuyển mục đích từ trước ngày Nghị định số 42/2012/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành thì trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, các địa phương tiếp tục thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất cho đối tượng là hộ gia đình, cá nhân.
Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất khác của hộ gia đình, cá nhân (trừ trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất) thực hiện sau ngày Nghị định số 42/2012/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành thì các địa phương căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt xem xét cho phép chuyển mục đích.
Đối với các công trình, dự án có sử dụng đất trồng lúa thì địa phương phải báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển đổi.
8. Về xử lý nợ đọng quỹ Bảo hiểm xã hội tỉnh Tiền Giang
Tiếp tục phối hợp các ngành liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức đến người lao động và người sử dụng lao động về pháp luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
Ban hành quy chế phối hợp trong việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các Sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Thường xuyên duy trì, phát huy hiệu quả phối hợp của Tổ công tác liên ngành về phát triển đối tượng, thu hồi nợ đọng; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử phạt những đơn vị trốn đóng, chậm đóng, nợ tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Định kỳ tổ chức sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm để có các giải pháp phù hợp.
Giao Bảo hiểm xã hội chủ động phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc xây dựng quy trình và thực hiện lập danh sách, chuyển tiền và cấp thẻ Bảo hiểm y tế đối với người tham gia Bảo hiểm y tế được ngân sách nhà nước đóng, hỗ trợ vào tháng đầu của quý theo Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14 tháng 8 năm 2009 của Bộ Y tế, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế.
III. Hội đồng nhân dân tỉnh yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả các nội dung giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết này và báo cáo kết quả tại kỳ họp cuối năm của Hội đồng nhân dân tỉnh.
IV . Giao Thường trực, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua và có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày thông qua./.