QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN V ề việc phê duyệt Đề án Cai nghiện - Tạo việc làm sau cai nghiện ma túy giai đoạn 2005 - 2010. ỦY BAN NHÂN DÀN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Quyết định TTg ngày 28/12/2000 của Thủ tướng phủ về
Chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001 - 2005;
Điều 1
Phê duyệt “Đề án Cai nghiện - Tạo việc làm sau cai nghiện ma túy giai đoạn 2005 - 2010 tỉnh Nghệ An” (có văn bản đính kèm).
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Các ông: Chánh Văn phòng HĐND - UBND tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành có liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
( Đã ký)
Hoàng Ky
ĐỀ ÁN
C ai nghiện - tạo việc làm sau cai nghiện ma túy giai đoạn 2005 - 2010 .
(Ban hành kèm theo Quyết định số 80/2004/QĐ-UB/ngày 30/7/2004 của UBND tỉnh Nghệ An)
I - ĐẶT VẤN ĐỂ
Đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma túy là một vấn đề phức tạp và khó khăn; đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, kiên trì và quyết liệt với các giải pháp đồng bộ từ tuyên truyền, giáo dục. phòng ngừa đến đấu tranh kiểm soát, triệt phá đường dây buôn bán vận chuyển, ổ nhóm sử dụng trái phép chất ma túy; trong đó việc cai nghiện - dạy nghề và tạo việc làm sau cai là một giải pháp nhằm giảm cầu, ngăn chặn việc tái nghiện và lây lan người nghiện mới, địa bàn mới, giúp người nghiện ma túy được cai thành công hòa nhập được với cộng đồng.
Đề án cai nghiện - tạo việc làm sau cai nghiện ma túy được xây dựng trên cơ sở Luật Phòng chống ma túy đã được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 16 tháng 7 năm 2002, Nghị định số 20/CP ngày 13/4/1996, Nghị định số 34/ CP ngày 28/03/2002 của Chính phủ quy định trình tự thủ tục và chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Nghị định số 56/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2002 về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng, Quyết định 150/ QĐ/TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001 - 2005, Thông tư Liên tịch số 31/1999/TTLT/BLĐTBXH-BYT ngày 20/12/1999 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Chỉ thị số 07/CT/TU ngày 9/10/2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường đấu tranh phòng chống ma túy. Đồng thời đề án được xây dựng trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức cai nghiện trong tỉnh thời gian vừa qua và học tập các mô hình cai nghiện có hiệu quả tại một số tỉnh bạn như Tuyên Quang, Lào Cai, TP Hồ Chí Minh .v.v...
Đây là một đề án liên quan tới nhiều lĩnh vực kinh tế, pháp luật, an ninh, chính trị đồng thời chịu sự tác động trực tiếp của quá trình phát triển kinh tê - xã hội và nhận thức của mỗi cấp, mỗi ngành và mọi người đối với công tác cai nghiện và giải quyết các vấn để xã hội sau cai trên địa bàn. Đề án là cơ sở để các cấp, các ngành, UBND các huyện, thành, thị, các xã, phường, thị trấn xây dựng và tổ chức thực hiện công tác cai nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề tạo việc làm sau cai cho người nghiện ma túy trong phạm vi của mình.
Thời gian thực hiện đề án: Giai đoạn I từ năm 2005 - 2006; giai đoạn II từ 2007 - 2010.
II. THỰC TRẠNG TỆ NẠN MA TÚY VÀ TÌNH HÌNH CAI NGHIỆN-TẠO VIỆC LÀM SAU CAI THỜI GIAN QUA
1. Thực trạng tệ nạn ma túy
Hiện nay số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên toàn tỉnh là 4.564 người: có 257/469 xã, phường, thị trấn của 19 huyện, thành, thị có người nghiện ma túy (có phụ lục kèm theo). Nghiện ma túy đã làm hủy hoại thể chất, tinh thần của con người gây hậu quả nghiêm trọng trên nhiều mặt:
a) Về sức khỏe: 85% người nghiện sức khỏe ốm yếu, trong đó 35% mất sức lao động: Có hơn 90% người nhiễm HIV bị lây nhiễm thông qua con đường tiêm chích ma túy.
b) Về an ninh, trật tự an toàn xã hội: Năm 2001 - 2003 trong số tội phạm hình sự có 85% số vụ liên quan đến ma túy, trong đó có nhiều vụ phạm tội đặc biệt nguy hiểm như: cướp của, giết người, đâm thuê, chém mướn, tống tiền.
c) Về mặt kinh tế: 12% do nghiện ma túy bị phá sản, tính bình quân một năm 4.564 người nghiện tiêu tốn hết: 365 ngày x 100.000/ngày x 4.564 người = 176,5 tỷ đồng, ngoài ra làm thiệt hại hàng chục tỷ đồng khác do nhiễm HIV/AIDS phải điều trị; do mất khả năng lao động, chưa kể đến kinh phí cho phòng chống TNXH, cai nghiện và quản lý sau cai do hậu quả ma túy gây ra.
d) Về xã hội: Tệ nạn ma túy làm xói mòn đạo đức, phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm mất trật tự an ninh xã hội; làm phá vỡ kết cấu xã hội, làm tăng trẻ em không nơi nương tựa, gây gánh nặng cho công tác đảm bảo xã hội.
2. Tình hình cai nghiện tạo việc làm sau cai thời gian qua.
a) Kết quả.
Từ năm 2001 đến năm 2003 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 3.199 lượt người (cai tập trung 1.266 lượt người, cai tại cộng đồng 1.933 lượt người). Trong đó tỷ lệ người chưa tái nghiện sau cai cắt cơn 6 tháng là 80%, sau 12 tháng là 30%, trong 30% số người sau 12 tháng chưa tái nghiện chủ yếu nhờ vào sự quản lý chặt chẽ và tổ chức dạy nghề, tạo việc làm sau cai cắt cơn.
UBND tỉnh đã có một số chính sách hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng nghiện ma túy có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong quá trình cai nghiện, đồng thời cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để người nghiện có điều kiện học nghề, có cơ hội tìm việc làm sau cai bảo đảm đời sống. Từ năm 2001 - 2003 đã có 385 người được học nghề, 433 người được tạo việc làm và 150 người nghiện được vay vốn giải quyết việc làm với tổng số tiền là 100 triệu đồng.
Qua thực tế của công tác cai nghiện tại các trung tâm, tại cộng đồng trong thời gian qua cho thấy, hình thức tạo việc làm cho người nghiện đã tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa các trung tâm, gia đình và bản thân người sau cai nghiện để thực hiện tốt công tác cai nghiện đồng thời giúp cho gia đình người sau cai nghiện chủ động phát huy khả năng và sở trường vốn có của họ và con em họ, bên cạnh đó đã huy động được thêm nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong xã hội, tham gia giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện.
Tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội I đã có gia đình học viên liên doanh đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở sản xuất tạo việc làm cho con em mình và các học viên, nhiều học viên có tay nghề thủ công, mỹ nghệ, đã nhiệt tình truyền nghề cho những học viên khác để tham gia lao động sản xuất, tạo ra sản phẩm trong giai đoạn cai nghiện.
b) Tồn tại han chế.
Vẫn còn người nghiện chưa được phát hiện lập hồ sơ quản lý, người nghiện mới vẫn gia tăng; Việc thống kê, phân loại người nghiện chưa chính xác để có biện pháp cai nghiện và quản lý sau cai phù hợp; Số người nghiện được cai và quản lý sau cai còn thấp so với tổng số người nghiện được phát hiện. Công tác cai nghiện tại gia đình và xã, phường, thị trấn hiệu quả đạt thấp. Các cơ sở cai nghiện tập trung quy mô còn nhỏ bé so với yêu cầu hiện nay.
Người nghiện và gia đình chưa thực sự tự giác, tự nguyện, quyết tâm, ý thức trách nhiệm và sự phối hợp với chính quyền cơ sở chưa cao nên việc cai nghiện hiệu quả thấp, tái nghiện còn cao.
Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, tổ công tác cai nghiện ở cơ sở chưa chú trọng chỉ đạo, tổ chức công tác cai nghiện và quản lý sau cai. Không ít cơ sở không tổ chức cai; hoặc có tổ chức nhưng tiến hành thiếu đồng bộ, thiếu kiên trì, thường xuyên. Số người sau cai được đào tạo nghề và vay vốn để tạo việc làm còn quá ít, hơn nữa các cấp, các ngành, địa phương và gia đình chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện dạy nghề, giải quyết việc làm và quản lý sau cai nên phần lớn sau cai cắt cơn một thời gian đều tái nghiện.
3. Nguyên nhân:
a) Khách quan:
Tình hình buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy đang phức tạp và càng tinh vi khó kiểm soát, tình trạng buôn bán lẻ và tổ chức sử dụng chưa được phát hiện triệt phá triệt để.
Cai nghiện và quản lý sau cai là công việc không giản đơn, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp vê hành chính, pháp luật và khoa học tâm lý, y tế, lao động sản xuất, tạo việc làm cũng như việc quản lý sau cai lâu dài để chống tái nghiện, nhưng chưa có các mô hình hiệu quả cao. Đa số người nghiện không có việc làm hoặc việc làm không ổn định.
b) Chủ quan:
Nhận thức của các cấp, các ngành và không ít cán bộ, nhân dân về cai nghiện và quản lý sau cai còn phiến diện, thiếu sâu sắc, đồng bộ; chỉ chú trọng cai cắt cơn mà không kiên trì quản lý sau cai và tiếp tục theo dõi giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề tạo việc làm đề ngăn ngừa tái nghiện. Do vậy tình trạng tái nghiện còn cao và nảy sinh tư tưởng hoài nghi, buông lỏng của một số địa phương trong công tác cai nghiện.
Trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền các ngành, các cơ quan, đoàn thể, nhất là ở cơ sở chưa tập trung cao cho việc cai nghiện và quản lý sau cai. Tổ chức thực hiện chưa đồng bộ, đồng tâm, đồng loạt, kiên trì và liên tục. Chưa xây dựng và nhân rộng các mô hình cai nghiện và quản lý sau cai có hiệu quả.
Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, cán bộ (nhất là ở cơ sở...) chế độ chính sách cho công tác cai nghiện và quản lý sau cai còn quá hạn hẹp chưa đảm bảo yêu cầu thực tê của công việc này.
III - PHƯƠNG HƯỚNG,
MỤC TIÊU, NỘI DUNG CAI NGHIỆN - TẠO VIỆC LÀM SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
Mục tiêu cai nghiện - tạo việc làm sau cai nghiện ma túy: