NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ V ề việc Ban hành quy ch ế về cai nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh Nghệ An ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Nghị định số 34 / CP ngày 28/3/2003 của Chính phủ về trình tự thủ tục và chế độ cai nghiện đối với những người nghiện ma tuý vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 15/5/2002 của Chính phủ về việc tổ chức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng;
Xét đề nghị của Giám đốc sở Lao động Thương binh và Xã hội tại Tờ trình sô 673/LĐTBXH-TNXH ngày 13 tháng 07 năm 2004, QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Ban hành “Quy chế về cai nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh Nghệ An” (có văn bản đính kèm)
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Các ông: Chánh Văn phòng HĐND - UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Lao động - Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Y tế, Công an tỉnh; Thủ trưởng các Ban, Ngành có liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, các trung tâm Giáo dục Lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện, chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
CHỦ TỊCH
(Đã ký )
Nguyễn Thế Trung
QUY CHẾ
C ai nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh Nghệ An
(Ban hành kèm theo Quyết định sổ 81/ 2004/QĐ-UB ngày 30 tháng 07 năm 2004 của UBND tỉnh Nghệ An)
Chương I
Điều 1
Cai nghiện ma tuý (sau đây gọi chung là cai nghiện) là biện pháp chữa bệnh bắt buộc bằng hình thức kết hợp điều trị y tế với lao động, học tập và rèn luyện đối với tất cả những đối tượng nêu tại điều 2 Quy chế này.
Điều 2
Người phải đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý là tất cả những người đã sử dụng trái phép các chất ma tuý bằng bất kỳ hình thức nào (được gọi chung là người nghiện ma tuý) và có một trong những căn cứ sau:
Bị bắt quả tang trong khi đang sử dụng trái phép các chất ma tuý.
Xét nghiệm của cơ quan Y tế về chất ma tuý đối với người đó có kết quả dương tính (có chất ma tuý trong cơ thể).
Có các tài liệu chứng minh người đó đã sử dụng trái phép các chất ma tuý.
Bản thân người nghiện hoặc gia đình người nghiện thừa nhận người đó đã sử dụng trái phép các chất ma tuý.
Điều 3
Công tác tố chức cai nghiện phải được tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, thống nhất, đồng bộ, đồng loạt; gắn liền vối công tác phòng ngừa, đấu tranh và xử lý nghiêm minh với tội phạm về ma tuý; không đế tái nghiện và phát sinh người nghiện ma tuý mới trên địa bàn toàn tỉnh.
Chương II
Điều 4
Cơ sở cai nghiện quy định tại Quy chế này là nơi tập trung chữa bệnh tự nguyện hoặc bắt buộc đối với những người nghiện ma tuý bằng các biện pháp điều trị cắt cơn, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lao động, học tập, rèn luyện thân thể. Cơ sở cai nghiện gồm nhà hoặc phòng cai nghiện ( sau đây gọi chung là nhà cai nghiện) đặt tại xã, phường, thị trấn, các Trung tâm giáo dục lao động đặt tại các huyện, thành, thị và các Trung tâm giáo dục lao động xã hội của tỉnh do Ngành Lao động TBXH quản lý, các Tổng đội thanh niên xung phong có nhiệm vụ tổ chức cai nghiện do Tỉnh đoàn thanh niên quản lý (sau đây gọi là Tổng đội TNXP cai nghiện).
Điều 5
Chức năng và nhiệm vụ của Cơ sở cai nghiện:
Tiếp nhận, quản lý và tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma tuý bằng các hình thức:
Điều trị cắt cơn nghiện và tổ chức học tập nâng cao nhận thức cho người nghiện.
Tổ chức cho người cai nghiện lao động, sản xuất, tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao nhằm giúp người nghiện từ bỏ ma tuý, phục hồi sức khỏe và nhân cách, không tái nghiện.
Xây dựng nội quy, kê hoạch hoạt động của đơn vị và chịu trách nhiệm về các hoạt động của đơn vị theo quy định của Nhà nước và Pháp luật.
Điều 6
Nhà cai nghiện tại xã, phường, thị trấn:
Nhà cai nghiện tại xã, phường, thị trấn là nơi thực hiện cai nghiện giai đoạn I cho người nghiện ma tuý.
UBND xã, phường,thị trấn chịu trách nhiệm quản lý nhà cai nghiện đặt tại địa phương.
Cán bộ tham gia quản lý thực hiện theo chế độ kiêm nhiệm gồm: Cán bộ định biên theo Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/ 2003 của Chính phủ về cán bộ công chức xã, phường, thị trấn; Y tế phường, xã, công an viên và các lực lượng tình nguyện.
Ban chỉ đạo tại xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý, thực hiện các biện pháp cai nghiện cắt cơn, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức, hướng cho người nghiện tự giác chấp hành Quy trình cai nghiện theo III giai đoạn (Tại chương IV của Quy chế này).
Điều 7
Các Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện:
Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện là nơi quản lý, giáo dục tố chức dạy nghề, tạo việc làm nhằm phục hồi sức khỏe, nhân cách cho người nghiện đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn I (đồng thời có thể thực hiện điều trị cắt cơn nghiện ma tuý cho phụ nữ, người chưa thành niên, người mắc bệnh xã hội và các đối tượng cai nghiện bắt buộc).
Các Trung tâm giáo dục lao động cấp huyện và các Trung tâm giáo dục lao động xã hội trực thuộc ngành Lao động TB&XH quản lý, Tổng đội TNXP cai nghiện do Tỉnh đoàn thanh niên quản lý, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản để giao dịch và hoạt động theo Quy chế của UBND tỉnh ban hành.
Điểu 8. Công tác chỉ đạo tổ chức cai nghiện:
Ở mỗi xã, phường, thị trấn thành lập Ban chỉ đạo tương tự như ban chỉ đạo cấp huyện.
Ở các khối xóm, làng, bản thành lập tiểu ban phòng chống ma tuý gồm: khối trưởng hoặc xóm trưởng làm trưởng tiểu ban và các thành viên gồm: tổ trưởng dân phố, đại diện các đoàn thể, cảnh sát khu vực hoặc công an phụ trách cơ sở.
Các cơ quan, đơn vị trường học đóng trên địa bàn đều phải thành lập tiểu ban phòng chống ma tuý của cơ quan, đơn vị mình, thành phần gồm: Thủ trưởng của đơn vị, Bí thư cấp uỷ Đảng và một số cán bộ đại diện các đoàn thể, phòng ban liên quan.
Chương III
Điều 9
Người nghiện ma tuý dù cai nghiện ở hình thức nào đều phải có đầy đủ hồ sơ cá nhân.
1. Hồ sơ của người cai nghiện tự nguyện
Đơn xin vào cai nghiện của người nghiện ma tuý hoặc gia đình người nghiện ma tuý.
Sơ yếu lý lịch của người nghiện ma tuý (kèm theo ảnh và đóng dấu giáp lai).
Giấy khám sức khỏe do cơ quan Y tế cấp.
Bản tự khai, tự kiểm điểm của người cai nghiện, bản cam kết của người cai nghiện hoặc gia đình người cai nghiện ma tuý.
Biên bản họp khối, xóm, tổ dân phố; Tiểu ban phòng chống ma tuý xã, phường, thị trấn; Tờ trình và biên bản của Hội đồng tư vấn xã, phường, thị trấn.
Quyết định của chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện giai đoạn I tại nhà cai nghiện xã, phường, thị trấn.
Các tài liệu của người nghiện được cập nhật trong suốt quá trình cai nghiện
2. Hồ sơ của người cai nghiện hình thức bắt buộc gồm:
Sơ yếu lý lịch của người nghiện ma tuý ( kèm theo ảnh và đóng dấu giáp lai)
Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp
Các biện pháp cai nghiện đã được áp dụng
Các tài liệu chứng minh người đó đã sử dụng trái phép chất ma tuý
Các tài liệu liên quan đến thân nhân người nghiện.
Nhận xét của Công an xã, phường, thị trấn, ý kiến của MTTQ và đoàn thể, tổ chức xã hội.
Biên bản họp xóm, khối, tổ dân phố; Tiểu ban phòng chống ma tuý xã, phường, thị trấn; Biên bản và Tờ trình của Hội đồng tư vấn của huyện, thành, thị đề nghị đưa vào cai nghiện bắt buộc.
Quyết định của Chủ tịch UBND huyện, thành, thị đưa người nghiện vào cai nghiện ma tuý giai đoạn I tại nhà cai nghiện xã, phường, thị trấn.
Các tài liệu về người cai nghiện bắt buộc được cập nhật trong suốt quá trình cai nghiện.
Điều 10
Quản lý hồ sơ cá nhân người nghiện ma tuý.
Hồ sơ cá nhân của người nghiện ma tuý được lập và quản lý theo từng giai đoạn cai nghiện như sau:
Giai đoạn I: Ban chỉ đạo cấp xã lập và quản lý hồ sơ của người nghiện ma tuý nếu cai tại xã, phường, thị trấn; nếu cai tại các Trung tâm giáo dục lao động xã hội, Tổng đội TNXP cai nghiện thì UBND huyện lập hồ sơ và các Trung tâm và Tổng đội quản lý hồ sơ.
Giai đoạn II: Hồ sơ cá nhân của người nghiện ma tuý do các Trung tâm giáo dục lao động và Tổng đội TNXP cai nghiện quản lý và bổ sung.
Giai đoạn III: Hồ sơ cá nhân của người nghiện ma tuý do Ban chỉ đạo cấp xã quản lý, bổ sung.
Khi được công nhận hoàn thành cai nghiện, toàn bộ hồ sơ cá nhân của người nghiện ma tuý được chuyển giao cho Công an huyện, thị xã quản lý, bổ sung theo chế độ quy định.
Những người nghiện ma tuý phải vào cai nghiện giai đoạn II thuộc đối tượng từ các Trại tạm giam, Trại giam trả về địa phương và người nghiện ma tuý được phép cai nghiện tại nhà, có đủ điều kiện chuyển giai đoạn II thì Ban chỉ đạo cấp huyện làm thủ tục đưa vào cai nghiện giai đoạn II như những người đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn I.
Điều 11
Trách nhiệm, trình tự đưa người nghiện vào cai nghiện ma tuý:
Ban chỉ đạo xã, phường, thị trấn có trách nhiệm chỉ đạo các ngành thu thập, củng cố hồ sơ, tài liệu về người nghiện ma tuý để trình chủ tịch UBND xã, phường ra quyết định đưa người vào cai nghiện giai đoạn I đối với người xin vào cai nghiện tự nguyên và trình chủ tịch UBND huyện, thành, thị ra quyết định đưa vào cai nghiện đối với người cai nghiện bắt buộc.
Ban chỉ đạo xã, phường, thị trấn chủ động lập danh sách, nhận xét và chuyển hồ sơ người đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn I trình chủ tịch UBND huyện, thành, thị rà quyết định đưa vào cai nghiện giai đoạn II tại các Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện đúng thời hạn.
Trường hợp người cai nghiện vi phạm nội quy, quy chế phải kéo dài thời gian cai nghiện giai đoạn I tại xã, phường thì chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định.
Trung tâm Giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện, chủ động lập danh sách người hoàn thành cai nghiện giai đoạn II đề nghị chủ tịch UBND huyện, thành, thị ra quyết định đưa về cai nghiện giai đoạn III đúng thời hạn.
Những trường hợp học viên vi phạm nội quy, quy chế phải thực hiện cai nghiện lại giai đoạn I tại Trung tâm và Tổng đội thì Ban giám đốc lập Tờ trình đề nghị chủ tịch UBND huyện, thành, thị ra quyết định.
Trường hợp người cai nghiện vi phạm nội quy, quy chế phải kéo dài thời gian cai nghiện giai đoạn II thì Giám đốc Trung tâm và Tổng đội ra quyết định.
Ban chỉ đạo xã, phường, thị trấn chủ động lập danh sách nhận xét và chuyên hồ sơ đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn III trình chủ tịch UBND huyện, thành, thị ra quyết định công nhận đã hoàn thành quy trình cai nghiện III giai đoạn và công khai trước nhân dân.
Chương IV
Điều 12
Cai tại xã, phường, thị trấn (giai đoạn I):
Dùng biện pháp y tế để cắt cơn và giáo dục nâng cao nhận thức cho người cai nghiện, thời gian 60 ngày (trường hợp đặc biệt có thế kéo dài trên 60 ngày), giai đoạn này được chia làm 2 bước:
Bước 1: Trong 20 ngày đầu người cai nghiện được quản lý tại nhà cai nghiện (từ 7- 15 ngày đầu chủ yếu dùng biện pháp cắt cơn cho người nghiện) không giải quyết cho người nghiện gặp thân nhân.
Bước 2: Người nghiện phải thực hiện những quy định sau:
Học tập nâng cao nhận thức, luyện tập thể dục nâng cao sức khỏe. Mọi hoạt động phải tuân thủ nội quy, quy chế trong phạm vi khuôn viên cơ sở cai nghiện.
Viết bản tự kiểm điểm quá trình sai phạm khi chưa vào cai nghiện, cam đoan sửa chữa, tố giác tội phạm về ma tuý.
Người cai nghiện được xét chuyển đến cai nghiện giai đoạn II tại Tổng đội TNXP cai nghiện và Trung tâm giáo dục lao động khi có đầy đủ các điều kiện sau:
Thời gian cai nghiện ở xã, phường, thị trấn đủ 60 ngày và không vi phạm nội quy, quy chế đề ra, các lần xét nghiệm do cơ quan y tế kiểm tra đều xác định âm tính, không còn chất ma tuý trong cơ thể.
Sức khỏe đã hồi phục, tích cực tham gia các công việc được giao, có thể lao động để nuôi sông bản thân.
Người nghiện ma tuý tình nguyện viết đơn (có cam kết của gia đình) xin chuyển đến cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động và Tổng đội TNXP cai nghiện hoặc có văn bản của Ban chỉ đạo cấp xã đề nghị. Nộp đủ số tiền theo quy định để phục vụ cho bản thân trong những ngày đầu mới đến Trung tâm giáo dục lao động và Tổng đội TNXP cai nghiện.
Trường hợp người nghiện ma tuý có ý thức tổ chức kỷ luật, sức khỏe tốt thì ban chỉ đạo xã, phường có văn bản đề nghị UBND cấp huyện xét duyệt chuyến cai nghiện giai đoạn II trước thời hạn nhưng thời gian cai nghiện tại xã, phường, thị trấn không dưới 45 ngày. Những trường hợp không đủ điểu kiện xét chuyển đến Trung tâm giáo dục lao động và Tổng đội TNXP cai nghiện thì phải tiếp tục rèn luyện cho đến khi đủ điều kiện mới được xét chuyên.
Đối với các trường hợp cai nghiện tại nhà, nhưng sau đó có đủ điều kiện đưa vào cai nghiện tập trung thì UBND xã,phường, thị trấn làm thủ tục giải quyết theo quy định tại Quy chế này.
Trường hợp người nghiện là phụ nữ, người chưa thành niên, người mắc các bệnh xã hội thì thực hiện theo Quy chế riêng. Trường hợp người nghiện mắc các bệnh về tim mạch, gan, thận, hô hấp và các căn bệnh nguy hiểm khác được thực hiện cai nghiện tại gia đình.
Điều 13
Cai nghiện tại các Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện (giai đoạn II)
Người đã hoàn thành cai nghiện ở giai đoạn I tại nhà cai nghiện xã, phường, thị trấn có quyết định của chủ tịch UBND cấp huyện chuyển cai nghiện giai đoạn II thời gian từ 18-24 tháng (trường hợp đặc biệt có thể kéo dài thời gian).
Người cai nghiện được chữa bệnh học tập nhằm phục hồi sức khỏe, nhân cách, đồng thời phải lao động để tự nuôi sống bản thân và chi phí cho các hoạt động khác.
Người cai nghiện phải được quản lý chặt chẽ (Đặc biệt trong 06 tháng đầu); bị cấm sử dụng rượu, bia, thuốc lá, thuốc lào, các chất kích thích khác.
Các nội quy, quy chế, chê độ do Ban giám đốc Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện quy định để phù hợp với tình hình của đơn vị.
Người cai nghiện giai đoạn II được xét chuyển cai nghiện giai đoạn III khi có đủ các điều kiện sau:
+ Có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, không vi phạm nội quy, Quy chế.
+ Có kết luận của cơ quan y tế xác định không còn chất ma tuý trong cơ thế.
+ Có đủ thời gian cai nghiện, hoàn thành các khoản đóng góp theo quy định
Điều 14
Cai nghiện giai đoạn III.
Những trường hợp sau đây được chuyển sang cai nghiện giai đoạn III
Đã có quyết định hoàn thành cai nghiện giai đoạn II tại các cơ sở cai nghiện và có kết luận kiểm tra của cơ quan Y tế xác định trong cơ thể không có chất ma tuý.
Người nghiện ma tuý được Ban chỉ đạo cấp huyện cho cai nghiện tại nhà, đã đủ điều kiện chuyển cai nghiện giai đoạn III.
Người nghiện ma tuý bị bắt đi cải tạo, có thời gian ở các Trại giam trên 20 tháng, có ý thức phấn đấu tốt, được các trại trả về địa phương.
Người cai nghiện ma tuý phải tiếp tục lao động, cai nghiện tại nơi cư trú với hình thức tự giác, chịu sự quản lý, giám sát, kiểm tra của Ban chỉ đạo, tiểu ban cai nghiện xã, phường, thị trấn từ 12-24 tháng.
Khi có quyết định đưa người cai nghiện về cai nghiện giai đoạn III. Ban chỉ đạo cấp huyện và Trung tâm giáo dục lao động hoặc Tổng đội TNXP cai nghiện phải tổ chức bàn giao người nghiện cho Ban chỉ đạo cấp xã và gia đình người nghiện để quản lý, giám sát, theo dõi, giúp đỡ họ.
Những người cai nghiện giai đoạn III có nhiệm vụ:
Tích cực lao động để đảm bảo cuộc sống, chấp hành tốt các quy định về quản lý hộ khẩu, chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu kiểm tra của cơ quan y tế.
Viết báo cáo kết quả cai nghiện hàng tháng nộp cho tiểu ban vào ngày 25 hàng tháng.
Những người cai nghiện giai đoạn III sử dụng lại chất ma tuý (khi cơ quan chức năng phát hiện) thì cai lại giai đoạn I.
Điều 15
Những người nghiện ma tuý là học sinh, sinh viên các trường thì phải nghỉ học đê cai nghiện tại gia đình (nếu dưới 18 tuổi) hoặc cai nghiện tại Tổng đội thanh niên xung phong (từ 18 tuổi trở lên) cho hết giai đoạn II.
Khi chấp hành xong thời gian cai nghiện giai đoạn II, nếu đối tượng cai nghiện thực sự tiến bộ thì được chuyển sang cai nghiện giai đoạn III và tiếp tục được vào học tại các trường phổ thông. Ngoài sự quản lý của cộng đồng, học sinh đó còn chịu sự quản lý chặt chẽ của tập thể lớp học, giáo viên chủ nhiệm và nhà trường.
Học sinh các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề mà nghiện ma tuý thì phải tạm thời nghỉ học để đưa vào cai nghiện theo đúng quy định tại Quy chế này.
Điều 16 . Các cơ quan đơn vị, tổ chức đóng trên địa bàn tỉnh Nghệ An nếu có người nghiện là cán bộ, công nhân viên thì phải có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ vối Ban chỉ đạo các huyện, thành, thị đế tổ chức cai nghiện cho họ theo đúng các quy định tại Quy chế này.
Điều 17
Một số trường hợp khác
Đối với sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, các trường dạy nghề Quốc gia và ở các địa phương khác mà con em tỉnh Nghệ An theo học và những người có hộ khẩu thường trú tại Nghệ An đang lao động, làm việc ở nơi khác khi về địa phương bị phát hiện sử dụng chất ma tuý thì phải cai nghiện, đồng thời chính quyền địa phương thông báo cho nhà trường và đơn vị sử dụng lao động biết.
Điều 18
Trong thời gian cai nghiện, nếu người nghiện ma tuý có hành vi vi phạm nội quy, Quy chế hoặc phạm tội thì tùy theo mức độ nặng nhẹ sẽ bị xử lý bằng hình thức kéo dài thời gian cai nghiện hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Pháp luật.
Nếu người nghiện ma tuý bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện hoặc trốn khỏi địa phương thì cơ sở cai nghiện và UBND các cấp nơi người nghiện ma tuý đăng ký hộ khẩu thường trú có trách nhiệm tố chức truy tìm và yêu cầu gia đình người nghiện ma tuý phối hợp với chính quyền địa phương truy tìm, đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện lại từ giai đoạn I tại xã, phường, thị trấn.
Điều 19
UBND cấp huyện, thành, thị, cấp xã, phường, thị trấn và các cơ sở cai nghiện có trách nhiệm tố chức xét nghiệm chất ma tuý định kỳ và đột xuất đối với người đang cai nghiện ma tuý. Các cơ sở y tế có nhiệm vụ giúp UBND các cấp và Cơ sở cai nghiện thực hiện việc xét nghiệm chất ma tuý.
Điều 20
Công nhận hoàn thành cai nghiện:
Người cai nghiện ma tuý giai đoạn III nếu có các điều kiện sau thì được ban chỉ đạo cấp xã xem xét và đê nghị Ban chỉ đạo cấp huyện xét công nhận hoàn thành cai nghiện.
Có đủ thời gian cai nghiện giai đoạn III từ 2 năm (24 tháng) trở lên.
Chấp hành nghiêm chỉnh Quy chế cai nghiện và những quy định của chính quyền địa phương, các lần xét nghiệm ma tuý đều âm tính.
Có bản tự kiểm điểm đánh giá quá trình cai nghiện của bản thân được mọi người trong thôn, bản, tố nhân dân công nhận là có tiến bộ hoặc có thành tích xuất sắc (bằng bỏ phiếu kín hoặc giơ tay biểu quyết trong cuộc họp tổ, thôn, xóm, bản) và được tiểu Ban phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở thôn, bản, xác nhận, đề nghị.
Có đề nghị của Nhà trường (nếu là học sinh phổ thông) hoặc của cơ quan quản lý (nếu là cán bộ, công nhân viên chức).
Điều 21
Tái nghiện:
Người đã được công nhận hoàn thành cai nghiện mà sử dụng trái phép chất ma tuý là tái nghiện.
Nếu người tái nghiện chưa bị phát hiện nhưng tự giác xin cai nghiện lại từ giai đoạn I thì sẽ được chấp nhận, nhưng tùy theo mức độ, thời gian cai nghiện phải kéo dài hơn, có thể bằng 2 lần thời gian quy định trong quy chế này.
Trường hợp tái nghiện, mà có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì cơ quan Công an lập hồ sơ đề nghị truy tố theo quy định của Pháp luật.
Chương V
Điều 22 . Quyền lợi của người nghiện ma tuý:
Được thực hiện các quyền cơ bản của công dân và bị hạn chế một số quyền theo nội quy, quy chế cai nghiện của nhà cai nghiện xã, phường, thị trấn, Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện và tại cộng đồng xã, phường, thị trấn.
Điều 23
Người cai nghiện ma tuý có nghĩa vụ:
Người đã sử dụng ma tuý phải tự giác đi cai nghiện, nếu không cai nghiện sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
Phải khai báo đầy đủ những sai phạm của bản thân và của người khác mà mình biết.
Chấp hành nghiêm pháp luật, các quy định hiện hành của Nhà nước và Quy chế cai nghiện của tỉnh.
Chấp hành nội quy, quy định của cơ sở cai nghiện; chịu sự quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan có thẩm quyền và cơ sở cai nghiện trong suốt quá trình cai nghiện ma tuý.
Tự túc các chi phí trong quá trình cai nghiện. Trường hợp còn nợ các khoản chi phí trong quá trình cai nghiện giai đoạn I thì phải hoàn trả trong suốt thời gian cai nghiện tại các Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện.
Điều 24
Quyền và nghĩa vụ của gia đình có người cai nghiện ma tuý.
Quyền lợi:
Được thông báo khi phát hiện có thân nhân là người nghiện ma tuý.
Được thăm gặp và chăm sóc người cai nghiện ma tuý theo quy định của Cơ sơ cai nghiện.
Nghĩa vụ:
Đóng góp các khoản kinh phí cai nghiện cho thân nhân cai nghiện ma tuý theo quy định.
Chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí chữa bệnh trong trường hợp người cai nghiện mắc các bệnh vượt quá khả năng điều trị của cơ sở cai nghiện được cơ sở y tế chuyển lên tuyến trên.
Có trách nhiệm phối hợp quản lý người đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn II tái hòa nhập cộng đồng.
Chương VI
Điều 25
Xử lý các hành vi, vi phạm của người cai nghiện tại xã, phường, thị trấn.
Trong thời gian cai nghiện, nếu người nghiện ma tuý có hành vi vi phạm nội quy, Quy chế hoặc phạm tội thì tùy theo mức độ nặng nhẹ sẽ bị xử lý bằng hình thức kéo dài thời gian cai nghiện hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Pháp luật.
Trường hợp sử dụng trái phép chất ma tuý: Đối vối người cai nghiện tự nguyện Ban chỉ đạo lập hồ sơ đề nghị chủ tịch ƯBND huyện, thành, thị ra quyết định cai nghiện bắt buộc và kéo dài thời gian cai nghiện 15 ngày. Đối với người cai nghiện bắt buộc, Ban chỉ đạo xã, phường áp dụng các biện pháp giáo dục thích hợp và áp dụng thời gian cai nghiện tính lại từ đầu đồng thời kéo dài cai nghiện thêm 30 ngày.
Điều 26
Xử lý đối với các hành vi vi phạm tại các Trung tâm giáo dục lao động và Tồng đội TNXP cai nghiện.
Các hành vi: Đánh nhau, tự gây thương tích, cố ý gây thương tích, cố ý hủy hoại tài sản, chống người thi hành công vụ, sử dụng các chất kích thích bị cấm và các hành vi khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc bồi thường trách nhiệm dân sự còn bị kéo dài thời gian cai nghiện từ 10-15 ngày đối với một hành vi vi phạm.
Hành vi bỏ trốn:
+ Đối với người cai nghiện tự nguyện: Tự trở lại hoặc do Trung tâm giáo dục lao động hoặc Tổng đội TNXP cai nghiện đưa quay lại thì Ban lãnh đạo Trung tâm hoặc Tổng đội lập hồ sơ đề nghị chủ tịch UBND cấp huyện ra Quyết định cai nghiện bắt buộc giai đoạn I tại Trung tâm hoặc Tổng đội thời gian 15 ngày.
+ Đối với người cai nghiện bắt buộc: tự trở lại hoặc do Trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện đưa quay lại thì lãnh đạo Trung tâm hoặc Tổng đội lập hồ sơ đê nghị UBND cấp huyện ra Quyết định cai nghiện bắt buộc lại giai đoạn I thời gian là 20 ngày.
+ Đối với các học viên bỏ trốn khỏi Trung tâm hoặc Tổng đội TNXP cai nghiện về địa phương thì gia đình người nghiện, Tiểu ban cai nghiện ma tuý và Ban chỉ đạo xã, phường, thị trấn có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định cai nghiện bắt buộc giai đoạn I và đưa họ vào cai nghiện tại nhà cai nghiện xã, phường, thị trấn đồng thời kéo dài thòi gian cai nghiện là 30 ngày.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
+ Đố với người cai nghiện tự nguyện: Lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định cai nghiện bắt buộc giai đoạn I tại Trung tâm giáo dục lao động, hoặc Tổng đội TNXP cai nghiện, đồng thời áp dụng biện pháp quản lý giáo dục thích hợp.
+ Đối với người cai nghiện bắt buộc: Lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định cai nghiện bắt buộc giai đoạn I tại Trung tâm giáo dục lao động, hoặc Tổng độỉ TNXP cai nghiện đồng thời áp dụng các - biện pháp quản lý giáo dục thích hợp và kéo dài thời gian cai nghiện 30 ngày. Hết thời gian trên nếu người cai nghiện có đủ các điều kiện quy định tại điều 10 Quy chế này thì Lãnh đạo Trung tâm hoặc Tổng đội đề nghị chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định chuyến sang giai đoạn II.
Các hành vi cấu thành tội phạm hình sự cu thề thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Chương VII
Điều 27
UBND các xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện cai nghiện giai đoạn I, phối hợp chặt chẽ với các Trung tâm giáo dục Lao động tỉnh và huyện, Tổng đội TNXP cai nghiện trong việc quản lý người cai nghiện và thường xuyên tổ chức thăm gặp, động viên nắm chắc các diễn biến của học viên thuộc xã, phường mình. Tổ chức thực hiện đưa người cai nghiện bỏ trốn quay lại cơ sở cai nghiện theo quy định. Phối hợp với UBMT Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể nhân dân, các tổ chức Kinh tế - xã hội thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng chống ma tuý.
UBND các huyện, thành, thị chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác chỉ đạo tổ chức cai nghiện ma tuý trong phạm vi, tham quyền của địa phương; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốíc và các đoàn thể, tổ chức xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng chống ma tuý.
Điều 28
Các trung tâm giáo dục lao động, Tổng đội TNXP cai nghiện có nhiệm vụ cai nghiện, xây dựng kế hoạch và tổ chức quản lý, học tập, lao động sản xuất cho học viên; thực hiện tốt việc cai nghiện.
Điều 29 . Ngành Công an có trách nhiệm:
Cử Cán bộ tham gia quản lý cai nghiện trong cả 3 giai đoạn
Tổ chức điều tra, đấu tranh, truy quét các đối tượng mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý, phối hợp lập hồ sơ và đưa đối tượng nghiện ma tuý vào các cơ sở cai nghiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Theo dõi, quản lý hồ sơ của tất cả các đối tượng nghiện ma tuý (kể cả số đối tượng bỏ trốn cai nghiện, đang cải tạo tại các trại giam, đi chữa bệnh...) phối hợp cùng với các cơ sở cai nghiện để lấy lời khai, hoàn chỉnh hồ sơ và quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian cai nghiện ở tất cả các giai đoạn.
Điều 30
Ngành lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm:
Phối hợp với các Sở Tư pháp, sở Y tế, Công an tỉnh và các Ban, ngành có hên quan hướng dẫn các huyện, thành, thị các Trung tâm giáo dục lao động và Tổng đội TNXP cai nghiện thực hiện tốt Quy chế này.
Phối hợp với các Ban ngành, đoàn thế và UBND huyện, thành, thị kiểm tra, chỉ đạo tổ chức quản lý cai nghiện; hỗ trợ đào tạo nghề, hướng dẫn,vay vốn, giải quyết việc làm cho người nghiện ma tuý sau khi đã hoàn thành tốt cai nghiện giai đoạn II.
Điều 31
Ngành y tế có trách nhiệm:
Chỉ đạo chuyên môn về công tác điều trị cai nghiện ma tuý.
Trực tiếp giúp UBND các cấp và các cơ sở cai nghiện điều trị cắt cơn nghiện, khám, chữa bệnh thông thường và kiểm tra, xét nghiệm chất ma tuý để xác định người có sử dụng chất ma tuý.
Phối hợp với các cớ sở cai nghiện lập sổ theo dõi sức khỏe người cai nghiện ma tuý trong các giai đoạn cai nghiện ma tuý.
Điều 32
Các ngành, các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh phối hợp với các tổ chức, đoàn thề có trách nhiệm đấu tranh, phòng, chống ma tuý trong nội bộ cơ quan và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp tham gia tổ chức thực hiện công tác phòng, chống ma tuý trên địa bàn toàn tỉnh.
Chương VIII
Điều 33
Tập thể, cá nhân có thành tích trong việc tố chức cai nghiện ma tuý được khen thưởng theo chế độ quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 34
Mọi đối tượng vi phạm quy định của Nhà nước và của tỉnh về cai nghiện ma tuý thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Pháp luật.
Điều 35
Quy chế này được phổ biến rộng rãi đến toàn thế nhân dân, các cấp, các ngành trên địa bàn toàn tỉnh để thực hiện.