QUYẾT ĐỊNH V/v phê duyệt bản Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Bình Phước. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Quyết định số 1536/QĐ-UB ngày 22/6/2004 của UBND tỉnh về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về tổ chức, hoạt động và quản lý hội trên địa bàn tỉnh; .
Căn cứ Quyết định số 13/2004/QĐ-UB ngày 23/02/2004 của UBND tỉnh về việc cho phép thành lập Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Bình Phước;
Xét tờ trình số 05/CV-HBTBNN ngày 07/02/2006 của Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh về việc phê duyệt kết quả Đại hội Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt kèm theo Quyết định này bản “Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Bình Phước ” đã được Đại hội Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh (nhiệm kỳ 2005 - 2010) thông qua ngày 20/12/2005.
Điều 2
Các ông (bà): Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc sở Nội vụ, Giám đốc Sở y tế, Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Hưng
QUY CHẾ
TỔ CHỨC VÀ HOẠ T ĐỘNG CỦA HỘI BẢO TRỢ BỆNH NHÂN NGHÈO TỈNH BÌNH PHƯỚC
(Ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-UBND
Ngày 20/2/2006 của UBND tỉnh)
Được chăm sóc và chữa trị tốt khi ôm đau là quyền được pháp luật quy định và yêu cầu bức xúc và là nguyện vọng chính đáng của nhân dân nói chung đặc biệt là người nghèo. Thông cảm với tình hình ngân sách Nhà nước hiện nay còn nhiều khó khăn, để thực hiện phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Binh Phước được thành lập theo chủ trương của Tỉnh uỷ và Quyết định của UBND tỉnh ( dưới đây gọi tắt là Hội).
Đại hội Hội bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Bình Phước lần I nhiệm kỳ 2005 - 2010 đề ra quy chế tổ chức và hoạt động như sau:
Chương I
Điều 1
Hội lấy tên là: “Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Bình Phước ” nhằm hỗ trợ chữa trị cho bệnh nhân nghèo và trẻ em khuyết tật, dị tật bẩm sinh.
Điều 2
Hội là một tổ chức quần chúng bao gồm mọi thành viên tự nguyện, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nam nữ, địa vị xã hội, địa phương cư trú tự nguyện đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của để giúp đỡ người nghèo có điều kiện chữa trị bệnh khi ốm đau.
Điều 3 Hội hoạt động theo pháp luật Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản qui định về quản lý hoạt động Hội của Chính Phủ, Bộ Nội vụ và UBND tỉnh.
Điều 4
Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Bình Phước. Trụ sở của Hội đặt tại Trung tâm hành chính tỉnh Bình Phước (trước mắt địa chỉ giao dịch và làm việc của Hội đặt tại Sở Y tế).
Chương II
Điều 5
Nhiệm vụ của Hội là:
1/ Tiếp nhận sự đóng góp về vật chất và tinh thần của tất cả các cá nhân và tập thể, các tổ chức từ thiện, nhân đạo trong và ngoài nước, cho việc tài trợ khám chữa trị miễn phí cho bệnh nhân nghèo và trẻ em khuyết tật, dị tật bẩm sinh.
Hỗ trợ bữa cơm tình thương cho bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân nghèo tại các Bệnh viện trong tỉnh.
2/- Tổ chức các hoạt động có doanh thu gây quỹ Hội, nhằm bảo đảm khả năng kinh phí lâu dài cho hoạt động của Hội theo quy định của pháp luật.
3/- Góp ý kiến xây dựng để các cơ sở trực thuộc được Hội đóng góp bảo trợ... hoạt động ngày càng tốt trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam và các quy định của Bộ Y tế, UBND tỉnh và Sở Y tế.
4/- Tổ chức triển khai bảo trợ chữa bệnh miễn phí cho một số bệnh nhân nghèo, người tàn tật, trẻ em bất hạnh ở các địa phương, cần vận động sự đóng góp của địa phương và của cộng đồng theo khả năng để giúp cho bệnh nhân nghèo.
Chương III
Điều 6
Những công dân Việt Nam và những tổ chức từ thiện, xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân tự nguyện gia nhập Hội và đóng góp công sức, tiền của, trí tuệ để phục vụ cho mục đích của Hội đều được tham gia làm hội viên.
Những cá nhân (kể cả Việt kiều, người nước ngoài) tiêu biểu hoặc có công đóng góp lớn cho Hội sẽ được xét công nhận là hội viên danh dự của Hội. Việc xét hội viên danh dự do Ban Chấp hành Hội quyết định.
Điều 7
Hội viên có nhiệm vụ:
1 - Thực hiện các chương trình hoạt động của Hội.
2- Tuyên ưuyền mục đích của Hội và vận động thêm những người giàu lòng từ thiện đến với Hội để tham gia đóng góp công sức, trí tuệ, vật chất cho Hội.
3- Tham gia đóng góp công sức, tiền của phục vụ cho mục đích của Hội.
Điều 8
Hội viên có quyền lợi.
1- Tham gia ứng cử và bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội.
2- Thảo luận và biểu quyết các vấn đề liên quan hoạt động của Hội.
3- Được Hội giúp đỡ để phát huy khả năng làm công việc từ thiện theo quy định của Hội.
Chương IV
Điều 9
Cơ quan cao nhất của Hội là Đại hội toàn thể Hội viên (hoặc Đại hội đại biểu ), 5 năm tổ chức Đại hội 1 lần.
Đại hội có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1. Quyết định nhiệm vụ và phương hướng nhiệm kỳ công tác của Hội.
2. Thông qua báo cáo hoạt động của Ban Chấp hành Hội.
3. Quyết định bổ sung, sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội.
4. Bầu Ban Chấp hành Hội.
Điều 10
Giữa 2 kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của Hội là Ban Chấp hành Hội. Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Hội là 5 năm.
Ban Chấp hành Hội họp định kỳ 6 tháng 1 lần để xây dựng chương trình hoạt động của Hội trong từng thời kỳ. Khi có yêu cầu, Chủ tịch Hội hoặc Ban Thường vụ Hội có quyền triệu tập Ban Chấp hành Hội họp bất thường.
Số lượng uỷ viên Ban Chấp hành do Đại hội quyết định. Trong quá trình hoạt động, Ban Chấp hành Hội có quyền bổ sung uỷ viên Ban Chấp hành để thay thế các uỷ viên không thể tiếp tục nhiệm vụ.
Điều 11
Ban Chấp hành Hội bầu ra Ban Thường vụ và cử ra các Ban Chuyên môn của Hội. Ngoài ra, Ban Chấp hành có quyền mời một số nhân vật tiêu biểu, có uy tín, có khả năng đóng góp cho Hội làm cổ vấn-cho Hội.
Điều 12
Ban Thường vụ của Hội gồm Chủ tịch, 2 hoặc 3 Phó Chủ tịch, thư ký và các uỷ viên, số uỷ viên thường vụ do Ban Chấp hành Hội quy định.
Chủ tịch Hội là người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Hội theo quy chế tổ chức và hoạt động của Hội.
Các Phó Chủ tịch Hội là người thay mặt cho Chủ tịch Hội theo sự uỷ quyền của Chủ tịch Hội và phụ trách các Ban chuyên môn.
Thư ký điều hành Văn phòng thường trực của Hội, để thực hiện sự chỉ đạo của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Hội.
Điều 13
Ban kiểm tra của Hội có nhiệm vụ:
1. Giám sát việc thi hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội, Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết Ban Châ"p hành Hội.
2. Kiểm tra việc thu chi tài chính và sử dụng tài sản của Hội. Bao gồm nguồn thu từ vận động tài trợ và ngân sách Nhà nước hỗ trợ.
3. Xem xét và giải quyết các đơn khiếu nại và khiếu tô" của hội viên, đốì với những việc quan trọng thì xin ý kiến Ban Chấp hành Hội.
4. Kiểm tra và đề xuất việc thi hành kỷ luật đốì với hội viên vi phạm Quy chê của Hội.
Điều 14
Theo yêu cầu hoạt động của Hội, Ban Chấp hành Hội quyết định thành lập các Ban chuyên môn của Hội và chỉ định cán bộ điều hành các Ban này.
Điều 15
Tổ chức cơ sở của Hội là chi hội ở địa phương huyện, thị, các tổ chức kinh tế - xã hội: Công ty, xí nghiệp, chợ, Bệnh viện... được thành lập theo quy định Nhà nước.
Điều 16
Chi Hội có nhiệm vụ:
Tuyên truyền vận động và phát triển quỹ từ thiện của hội.
Phát triển hội viên .
Tham gia đóng góp ý kiến cho Hội.
Kiểm tra, đề xuất với Hội về bệnh nhân nghèo, trẻ em bất hạnh được cần Hội giúp chữa bệnh miễn phí; phối hợp với Hội để triển khai các chương trình nhân đạo của Hội ở địa phương.
Tổ chức các chương trình hoạt động giúp đỡ bệnh nhân nghèo trên địa bàn.
Sinh hoạt định kỳ và báo cáo cho Hội.
Chương V
Điều 17
Những tập thể, cá nhân và hội viên có thành tích xuất sắc trong hoạt động Hội được Hội xét khen thưởng hoặc được Hội đề nghị Sở Y tế và UBND tỉnh xét khen thưỏng.
Điều 18
Tập thể, cá nhân hội viên vi phạm Quy chế, Nghị quyết của Hội hoặc làm tổn thương đến uy tín dánh dự của Hội tuỳ theo mức độ sai phạm sẽ bị xử lý phù hợp theo các quy định.của Nhà nước.
Chương VI
Điều 19
Tài sản và tài chính của Hội gồm:
1. Tiền và tài sản đóng góp của hội viên.
2. Tiền và hiện vật do các cá nhân, các tổ chức đóng góp ủng hộ.
3. Doanh thu do các hoạt động sinh lợi của Hội (theo quy định của pháp luật).
Điều 20
Tài chính của hội gồm 2 nguồn chủ yếu:
Nguồn đóng góp nhân đạo của các tập thể, cá nhân ưong và ngoài tỉnh.
Nguồn hỗ trợ của ngân sách.
a-/Nguồn đóng góp nhân đạo:
Chủ yếu bảo trợ các chương trình chữa bệnh miễn phí cho bệnh nhân nghèo và trẻ em khuyết tật, dị tật bẩm sinh.
Chi cho việc tổ chức tiếp nhận viện trợ của các tổ chức, cá nhân có lòng tốt đến đóng góp tiền của, công sức và tham gia các hoạt động nhân đạo của Hội ở địa phương.
Chi cho các hoạt động mang tính gây quỹ nhân đạo cho hội.
b/ Nguồn do Ngân sách hỗ trợ:
Các hoạt động thường xuyên của Hội (hành chính, quản trị...) theo nguyên tắc tiết kiệm và quy định quản lý tài chính của Nhà nước.
Điều 21
Tài sản và tài chính của Hội được quản lý và sử dụng theo chương trình hành động của Hội được Đại hội hội viên hoặc Hội nghị Ban Chấp hành Hội thông qua.
Điều 22
Văn phòng thường trực của Hội có trách nhiệm thông báo đầy đủ cho các cá nhân, tổ chức đóng góp tiền và tài sản cho Hội biết rõ việc tiếp nhận và kết quả sử dụng tiền, tài sản đã đóng góp.
Điều 23
Trường hợp Hội giải thể, tài sản của Hội sẽ được chuyển giao UBND tỉnh hoặc các Ban, ngành tổ chức từ thiện khác (sau khi được sự chấp thuận của UBND tỉnh) để đưa vào sử dụng cho các hoạt động phù hợp với tôn chỉ, mục đích của Hội.
Chương VII
Điều 24
Bản Quy chế tổ chức và hoạt động này được Đại hội Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh (nhiệm kỳ 2005-2010) thông qua ngày 20/12/2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày được UBND tỉnh phê duyệt.
Điều 25
Chỉ có Đại hội toàn thể hội viên hoặc Đại hội đại biểu hội viên mới được quyện sửa đổi và bổ sung Quy chế với 2/3 đại biểu dự Đại hội tán thành và được UBND tỉnh phê duyệt mới có hiệu lực thi hành./.