Q UYẾ T ĐỊNH Về việc phê duyệt đề án: “Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2006 - 2010” UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật tổ chức HĐND - UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Quyết định số 70/2005/QĐ-UB ngày 18 tháng 7 năm 2005 về việc phê duyệt đề án: "Định hướng và các giải pháp thúc đ ẩ y hoạt động Khoa học - Công nghệ, giai đoạn 2006-2010";
Xét đề nghị của Giám đốc S ở Khoa học và Công nghệ tại Công văn số1094 /CV-KHCN, ngày 3 tháng 11 năm 2005, QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Phê duyệt đề án: "Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2006 - 2010" do Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng. (Có đề án chi tiết kèm theo)
Điều 2
Căn cứ vào nội dung đề án đã được phê duyệt, Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện đề án đạt kết quả tốt.
Điều 3
Quyết định có hiệu lực từ ngày ký.
Các ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
TM. UBND TỈNH NGHỆ AN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Hồng Trường
Đ Ề Á N
Đẩy mạnh hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 104/2005/QĐ-UBND ngày 08 tháng 12 năm 2005 của UBND tỉnh Nghệ An)
I- SỰ CẦN THIẾT
Sở hữu trí tuệ (SHTT) là một nội dung quan trọng của hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ lao động sáng tạo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng; chống sản xuất buôn bán hàng giả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Hội nhập kinh tế thế giới là quá trình tất yếu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giai đoạn 2006-2010 là thời kỳ hội nhập khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO và hội nhập hoàn toàn vào AFTA. Vì vậy để đáp ứng những yêu cầu định chế quốc tế là vấn đề thách thức đối với bộ máy quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp và cộng đồng xã hội, trong đó thực thi quyền Sở hữu trí tuệ là một yêu cầu thiết yếu mà chúng ta phải thích nghi và đáp ứng trong tiến trình hội nhập.
Cùng với cả nước, Nghệ An đang bưởc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khóa XV trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (dự thảo) xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ cho thời kỳ 2006-2010 trong đó tư tưởng chỉ đạo là: “Đổi mới-hợp tác-hội nhập và tăng tốc”…, nhiệm vụ phát triển công nghiệp: có các giải pháp đột phá nhằm đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp 18-19%/năm. Tập trung chỉ đạo nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế: Xi măng, đường kính, sữa, dầu thực vật, bột đá trắng, vật liệu ốp lát, dệt may, chế biến hải sản..., quan tâm nhóm sản phẩm tạo nguồn thu nhập ngân sách cao: Bia, rượu, thuốc lá, sữa, lắp ráp ô tô, xe máy, hàng điện tử.
Trong những năm qua hoạt động sở hữu trí tuệ đã đạt được những kết quả nhất định: Nhận thức của xã hội về vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ đã được nâng cao một bước; các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ năm sau nhiều hơn năm trước; công tác thực thi quyền đã được triển khai, giải quyết được một số tranh chấp khiếu nại. Nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, còn nhiều tồn tại, yếu kém. Nhận thức của xã hội về vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ đang còn ở mức thấp; các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ còn ít chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của tỉnh. Việc đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ chỉ mới được triển khai bước đầu và chưa đạt được kết quả như mong muốn. Sự phối hợp hoạt động giữa Sở Khoa học và công nghệ và các cơ quan chức năng trong việc thực thi quyền chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra khá phổ biến, ảnh hưởng không tốt đến việc khuyến khích các nỗ lực lao động sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh, đến việc thu hút đầu tư và quá trình hội nhập, gây thiệt hại cho người sản xuất và người tiêu dùng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy, việc xây dựng và triển khai thực hiện đề án nhằm đẩy mạnh hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006-2010 góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động sở hữu trí tuệ, lao động sáng tạo khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà sản xuất và người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là rất cần thiết.
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền bảo hộ giống cây trồng... có các nội dung và tính chất riêng biệt. Đề án này chỉ đề cập nội dung hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), gồm các đối tượng: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới Sở Công nghiệp.
II- CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN
Bộ luật dân sự Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006) thay thế Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995.
Chỉ thị số 18/2004/CT-BKHCN ngày 14/7/2004 của Bộ Khoa học và công nghệ về việc tăng cường công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ và quản lý chất lượng sản xuất, hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất nhập khẩu;
Đề án “Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của Nghệ An đến năm 2010”, ban hành theo Quyết định số 85/2003/QĐ-UB ngày 18/9/2003 của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Quyết định số 70/2005/QĐ-UB ngày 28/7/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt Đề án “Định hướng và các giải pháp thúc đẩy hoạt động khoa học - công nghệ giai đoạn 2006 - 2010”;
Kết quả hoạt động sở hữu trí tuệ ở Nghệ An trong 10 năm gần đây (1995 - 2005).
III- MỘT S Ố KHÁI NIỆM, THUẬT NG Ữ
3.1. Quyền sở hữu trí tuệ: Là quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền bảo hộ giống cây trồng (dự thảo Luật sở hữu trí tuệ mới).
3.2. Quyền sở hữu công nghiệp: Là quyền sở hữu của các cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ (Điều 780, Bộ luật Dân sự).
3.3. Các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và các đối tượng khác do pháp luật quy định, trừ các đối tượng được quy định tại
Điều 787,
Điều 781 - Bộ luật dân sự).
3.4. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp: Quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập theo văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.
3.5. Thực thi quyền: Thực hiện và thi hành đúng quyền sở hữu công nghiệp do pháp luật quy định.
3.6. Nhãn hiệu hàng hóa: Là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại của cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là chữ viết và hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc (Điều 785, Bộ luật dân sự).
3.7. Tên gọi xuất xứ hàng hóa: Là tên địa lý của một nước hoặc của một địa phương, nơi mà hàng hóa được sản xuất và hàng hóa đó phải có tính chất, chất lượng đặc thù do yếu tố địa lý (tự nhiên, con người) của nước, địa phương đó quyết định (Điều 786 Bộ luật dân sự).
3.8. Chỉ dẫn địa lý: Là tên gọi, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ (địa phương) được thể hiện trên hàng hóa, bao bì hay giấy tờ giao dịch mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa đó có nguồn gốc (được sản xuất ra) tại quốc gia, vùng lãnh thổ (địa phương) nói trên mà đặc trưng về chất lượng, uy tín hoặc danh tiếng của hàng hóa chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên (Điều 10 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ).
3.9. " Thương hiệu" (Trade mark): Là một thuật ngữ mới được sử dụng trong những năm gần đây, chưa được đề cập trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam. Theo Bộ Thương mại: “ Thương hiệu" (Trade mark) là những dấu hiệu được nhà sản xuất hoặc nhà phân phối hàng hóa hoặc nhà cung ứng dịch vụ sử dụng trong thương mại nhằm ám chỉ sự liên quan giữa hàng hóa hay dịch vụ với người có quyền sử dụng dấu hiệu đó với tư cách là chủ sở hữu hoặc người đăng ký thương hiệu (Đề án
Chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia đến năm 2010).
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu cụ thể
Phần lớn các doanh nghiệp chưa hiểu rõ được lợi ích và giá trị tài sản sở hữu trí tuệ là một bộ phận cấu thành của tài sản doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường không có bộ phận chăm lo phát triển tài sản trí tuệ, thường thụ động, lúng túng khi đối mặt với các tình huống về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp dẫn đến tình trạng tài sản trí tuệ có giá trị bị người khác chiếm đoạt do không đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp nhưng không tra cứu, tìm hiều kỹ dẫn đến xâm phạm quyền của người khác. Đặc biệt một số doanh nghiệp lấy việc sao chép các kiểu dáng, nhãn hiệu các doanh nghiệp khác làm phương thức hoạt động thường xuyên của mình.
Mục tiêu hàng năm: