QUYẾT ĐỊNH Ban hành Đề án đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2006-2010 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
Căn cứ Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 của Chính phủ, về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao;
Căn cứ Nghị quyết số 13/2006/NQ-HĐND ngày 12 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh, v/v phê duyệt Đề án đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2006-2010; QUYẾT ĐỊNH
Điều 1 : Ban hành kèm theo quyết định này: Đề án đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2006-2010.
Điều 2 : Các Ông (Bà) Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Y tế, Thủ trưởng các Sở, Ban ngành tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Pleiku và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phạm Thế Dũng
ĐỀ ÁN
ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI, GIAI ĐOẠN 2006-2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 58/2006/QĐ-UB, ngày 08 tháng 8 năm 2006 của UBND tỉnh)
Thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về "Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao"; Quyết định số 2194/QĐ-BYT ngày 21/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về "Phê duyệt Đề án phát triển xã hội hoá bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân".
Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai xây dựng Đề án đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2006-2010 với những nội dung cụ thể như sau:
I. THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC Y TẾ Ở TỈNH TA THỜI GIAN QUA
Xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước được thể hiện qua nhiều Nghị quyết quan trọng. Thời gian qua các đơn vị, các địa phương triển khai nhiều hoạt động nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh và đã được kết quả nhất định, tuy chưa được như mong muốn.
1. Những kết quả đạt được:
1.1. Chuyển biến nhận thức về xã hội hoá công tác y tế:
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp cũng như sự phối hợp liên ngành trong y tế, người dân đã có kiến thức hơn trong việc tự chăm lo bảo vệ sức khỏe, mạng lưới truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) được xây dựng và hoạt động đạt kết quả. Một số mô hình xã hội hoá mang tính từ thiện đã được hình thành trong công tác khám chữa bệnh, phẫu thuật đem lại ánh sáng cho người nghèo và trẻ em bị khuyết tật.
1.2. Hệ thống y tế công lập được củng cố và phát triển.
Hệ thống y tế công lập ở tỉnh ta tiếp tục phát triển và giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ y tế. Toàn tỉnh có 18 bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, 16 phòng khám đa khoa khu vực, 193 xã có y tế hoạt động, số xã chưa có trạm y tế là 8 xã chiếm tỷ lệ 4%, tỷ lệ giường bệnh viện/10.000 dân là: 15,5; đội ngũ nhân viên y tế thôn bản có bước chuyển biến đáng kể, đến nay có 1.715 người. Đội ngũ cán bộ làm công tác y tế được quan tâm bổ sung, trình độ chuyên môn ngày càng cao, đến nay có 2.746 cán bộ y tế, 409 Bác sĩ, có 112 BS có trình độ sau đại học, trong đó 30% số xã có bác sĩ. Đã huy động nhiều nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, các đơn vị y tế đã từng bước được đầu tư, chuẩn hoá dần, về cơ bản đảm bảo được khả năng khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Công tác y tế dự phòng được chú trọng: tình hình dịch bệnh ổn định, dịch hạch từ năm 2002 trở lại đây không mắc ca nào, dịch tả nhiều năm liền không xảy ra, công tác tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi triển khai đạt kết quả trên 90%, tỷ lệ mắc sốt rét/1.000 dân giảm xuống còn 5,3%, bệnh bướu cổ trẻ em từ 8-12 tuổi giảm xuống còn 5%, tỷ lệ số hộ gia đình dùng muối iốt duy trì mức 99%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 33,4%.
Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân ngày càng tiến bộ, đảm bảo được khả năng khám, chữa bệnh, cấp cứu cho nhân dân, hàng năm khám chữa bệnh cho hơn 1 triệu lượt người, gần 90.000 lượt người điều trị nội trú. Thực hiện Quyết định 139/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được khám chữa bệnh miễn phí, tạo công bằng trong công tác khám chữa bệnh. Thu viện phí hàng năm đều tăng, năm 2005 là 15,8 tỷ đồng (năm 2003: 3 tỷ đồng).
1.3. Phát triển bảo hiểm y tế (BHYT).
Tính đến nay số người có thẻ khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế và diện tương đương chiếm tỷ lệ 63,7% dân số toàn tỉnh.
1.4. Đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh.
Tổng số cơ sở hành nghề y dược tư nhân trên địa bàn tỉnh hơn 229 cơ sở, các cơ sở hành nghề y tế tư nhân có những đóng góp tích cực trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân.
2. Một số tồn tại chủ yếu và nguyên nhân:
Mặc dù nội dung xã hội hoá công tác y tế đã được nêu rõ trong Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, nhưng một số Cấp ủy, Đảng, Chính quyền các cấp nhận thức chưa đúng và đầy đủ, chưa thật sự quan tâm, chưa đề ra kế hoạch hành động cụ thể công tác xã hội hoá, nhiều ngành, địa phương coi công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân là công việc chỉ riêng ngành y tế đảm nhận.
Công tác truyền thông còn hạn chế, số người tham gia BHYT tự nguyện còn ít.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG Y TẾ GIAI ĐOẠN 2006-2010
Để tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động y tế trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau đây:
1.
Mục tiêu và chỉ tiêu cơ bản.
Mục tiêu: