CHỈ THỊ CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Về việc tổng kết thực hiện chính sách tiền lương, trợcấp xã hội Chế độ tiền lương và trợ cấp xã hội được thực hiện theo đề án cải cách chính sáchtiền lương Nhà nước do Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 và kỳ họp thứ 10 thôngqua, về cơ bản đã tiền tệ hóa các khoản phân phối gián tiếp ngoài lương từ ngânsách Nhà nước cho người lao động, khắc phục một bước quan trọng tính bình quântrong chế độ tiền lương trước đây, tạo điều kiện cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm,nâng ngạch, nâng bậc cho cán bộ, công chức trong từng ngành, từng lĩnh vực. Tuynhiên, qua hơn 6 năm thực hiện, chế độ tiền lương và trợ cấp xã hội vẫn cònnhiều tồn tại: tiền lương thực tế bị giảm sút không đủ trang trải cho các nhucầu thiết yếu của người hưởng lương; chưa có cơ chế tiền lương và trợ cấp thíchhợp đối với khu vực sự nghiệp (dịch vụ công) và đối với các đối tượng hưởngchính sách xã hội; việc thiết kế tiền lương còn có những bất hợp lý. Để đánh giá đúng thực trạng tiền lương và trợ cấp xã hội hiện hành, làm cơ sở choviệc tiếp tục nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần Nghịquyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII), Thủ tướngChính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quanthuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai thực hiệncác công việc sau đây: I.Tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách tiền lương và trợ cấp xãhội từ năm 1993 đến nay theo những nội dung sau đây: 1.Về mục tiêu tổng kết: Phân tích những ưu, nhược điểm của chế độ tiền lương và trợ cấp xã hội trong mốiquan hệ với các chính sách kinh tế - xã hội khác; kiến nghị sửa đổi, bổ sungchính sách tiền lương và trợ cấp xã hội trong những năm tới. 2.Về nội dung tổng kết: a)Đánh giá thực hiện các yêu cầu, nguyên tắc đã được nêu tại các Chỉ thị số22/CT-TW ngày 15 tháng 5 năm 1993 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chỉ đạothực hiện chế độ lương mới và Chỉ thị số 239/TTg ngày 23 tháng 05 năm 1993 củaThủ tướng Chính phủ về triển khai chế độ tiền lương mới; các nguyên tắc quyđịnh tại
Điều 8 Quyết định số 69/QĐ-TW ngày 17 tháng 05 năm 1993 của Ban Bí thưTrung ương Đảng quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của cán bộ, công nhânviên cơ quan Đảng, đoàn thể;
Điều 10 Nghị định số 25/CP ngày 23 tháng 5 năm1993;
Điều 8 Nghị định số 26/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ.
b)Tổng kết, đánh giá các văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnvới việc triển khai thực hiện chế độ tiền lương và trợ cấp xã hội ở Trung ương,địa phương.
c)Phân tích, đánh giá nội dung chế độ tiền lương và trợ cấp xã hội thực hiện từngày 01 tháng 4 năm 1993 đến nay, bao gồm các nội dung sau đây:
Quy định mức tiền lương tối thiểu giữa đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nướcvới người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổchức quốc tế tại Việt Nam.
Thang lương, bảng lương, ngạch, bậc lương, hệ số mức lương, quan hệ tiền lương củacán bộ dân cử, bầu cử; công chức ngành tòa án, kiểm sát; hành chính sự nghiệp;đảng, đoàn thể; công nhân viên chức trong các doanh nghiệp và người hưởng lươngtrong lực lượng vũ trang.
Chế độ phụ cấp lương áp dụng chung và các chế độ phụ cấp, trợ cấp đặc thù áp dụngcho một số ngành, nghề.
Về quản lý tiền lương và thu nhập đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước(quản lý biên chế, quỹ tiền lương, nâng ngạch, nâng bậc lương, các khoản thunhập ngoài lương); đối với các doanh nghiệp nhà nước (quản lý định mức laođộng, đơn giá tiền lương, tiền ăn giữa ca, bồi dưỡng hiện vật, sử dụng quỹ khenthưởng và phúc lợi); đối với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Phân tích, đánh giá các chế độ sau trong mối quan hệ với chế độ tiền lương của cánbộ, công chức: chế độ sinh hoạt phí đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ, chế độ ăn củalực lượng vũ trang; chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn;chế độ bảo hiểm xã hội; chế độ trợ cấp xã hội đối với người có công.
3.Đánh giá quan hệ giữa thực hiện chính sách tiền lương và trợ cấp xã hội với cácchính sách: giải quyết việc làm; tài chính, đầu tư cơ sở hạ tầng, giá cả, tiềntệ; nhà ở, học tập, khám chữa bệnh; vấn đề cải cách hành chính và tổ chức bộ máytrong hệ thống chính trị.
4.Kế hoạch thực hiện tổng kết:
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương phải hoàn thành và gửi báo cáo về Ban Tổ chức - Cán bộChính phủ, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo tiền lương Nhà nước chậm nhấtvào cuối tháng 12 năm 1999.
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và cơ quan Trungương của các đoàn thể, thực hiện tổng kết theo các nội dung nêu trên đối vớicác cơ quan đảng, đoàn thể.
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2000.
II.Thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên về tiền lương và thu nhập.
Để nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung chế độ tiền lương và trợ cấp xã hội, Thủ tướngChính phủ yêu cầu, các cơ quan đơn vị theo danh mục đính kèm Chỉ thị này cótrách nhiệm báo cáo định kỳ 6 tháng và hàng năm số liệu thực hiện về tiền lươngvà thu nhập, cụ thể như sau:
1.Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chỉđạo các đơn vị trực thuộc có tên trong danh mục đính kèm lập báo cáo theo hướngdẫn của các cơ quan chức năng:
a)Đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp lập báo cáo gửi về Ban Tổ chức - Cánbộ Chính phủ;
b)Đối với các doanh nghiệp Nhà nước lập báo cáo gửi về Bộ Lao động - Thương binhvà Xã hội.
2.Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố HàNội, thành phố Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh ĐồngNai, mỗi nơi chọn 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 3 doanh nghiệp tưnhân trên địa bàn, lập báo cáo định kỳ gửi về Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội.
Số liệu báo cáo 6 tháng lấy theo số thực hiện đến ngày 30 tháng 6 hàng năm và phảibáo cáo chậm nhất vào ngày 31 tháng 7 hàng năm; số liệu báo cáo cả năm được lấytheo số thực hiện đến 31 tháng 12 hàng năm và phải báo cáo chậm nhất vào cuốiquý I của năm sau.
3.Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binhvà Xã hội, Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn mẫu báo cáo về tiền lương vàthu nhập; tiến hành tổng hợp, phân tích số liệu và đề xuất kiến nghị giảiquyết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ 6 tháng vào cuối quý III và cả nămvào đầu quý II năm sau.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủtịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị này, kểcả việc báo cáo tình hình thực hiện tiền lương và thu nhập của các đơn vị trongnăm 1999./.
DANH
MỤC CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, SỰ NGHIỆP VÀ CÁC DOANHNGHIỆP BÁO CÁO SỐ LIỆU VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP