QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH V/v Ban hành hướng dẫn xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/06/1994;
Căn cứ Nghị định 86/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế bán đấu giá tài sản; -
Căn cứ Quyết định 1766/1998/QĐ.BTC ngày 7/2/1998 của Bộ Tài chính ban hành “Quy chế quản lý và xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước”; -
Căn cứ Thông tư số 17/1999/TT.BTC ngày 5/2/1999 của Bộ tài chính hướng dẫn sửa đổi bổ sung một số điểm về chế độ hoá đơn chứng từ đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường; -
Xét đề nghị của Sở Tài chính - Vật giá tại tờ trình số 128/TC-VG ngày 31/03/1999. QUYẾT ĐỊNH ĐIỀU 1 : Nay ban hành kèm theo Quyết định này Bản hướng dẫn tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước áp dụng trên địa bànTỉnh Bình Phước. ĐIỀU 2 : Các ông Chánh văn phòng UBND Tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính - Vật giá, Giámđốc sở Thương mại Du lịch, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm, Chủ tịch UBND các huyện và Thủ trưởng các ban, ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Quyết đinh này có hiệu lực kể từ ngày ký. TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Trương Tấn Thiệu HƯỚNG DẪN Xử lý tài sản tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước (Ban hành kèm theo Quyết định số 137/1999/QĐ-UB ngày 17-06-1999 của UBND Tỉnh Bình Phước) I.ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI ÁP DỤNG 1. Tài sản sử dụng trong các vụ vi phạm hành chính đã có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước của các ngành, các cấp có thẩm quyền theo quy định của Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính ngày 6/7/1995. 2. Tài sản do cơ quan Tòa án ra quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước và cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo quy định tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 21/04/1993. 3. Tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo quy định tại
Điều 247, 248, 249, 647 của Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:
Tài sản là bất động sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản sau 5 năm kể từ ngày các cơ quan chức năng thông báo công khai vẫn chưa xác định được ai là chủ sở hữu.
Những tài sản là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hóa hay tài sản được tìm thấy không phải là cổ vật, di tích lịch sử, văn hóa mà có giá trị lớn bị chôn dấu, chìm đắm, trôi dạt được tìm thấy và đã được các cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sở hữu Nhà nước, hoặc tài sản tuy có giá trị nhỏ nhưng được pháp luật quy định thuộc sở hữu Nhà nước.
Tài sản có giá trị lớn bị đánh rơi, bỏ quên không xác định được ai là chủ sở hữu sau 1 năm kể từ ngày được cơ quan chức năng của Nhà nước thông báo công khai.
Những tài sản là di sản không có người kế thừa theo di chúc, theo Pháp luật hay có nhưng người đó không được hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản.
4. Những tài sản do tổ chức, cá nhân trong nước hiến tặng hoặc giao cho tổ chức, cá nhân được xác lập quyền sở hữu Nhà nước của cấp có thẩm quyền.
II. Các tài sản không thuộc đối tượng điều chỉnh của hướng dẫn này bao gồm: Tài sản kê biên, tài sản tạm giữ, tài sản cầm giữ hàng hải, tài sản vô thừa nhận của ngành bưu điện, tài sản tồn đọng tại các cảng biển, cảng hàng không, tài sản là vật chứng vụ án chưa có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước và các loại tài sản theo quy định riêng của pháp luật.
III. Các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tài sản sung công quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước đối với các tài sản nêu ở
Điều 1 bao gồm:
1. Các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tài sản sung quỹ Nhà nước theo quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/06/1995.
2. Cơ quan thi hành án các cấp ra quyết định thi hành án đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước của cơ quan tòa án cùng cấp theo quy định tại Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21/04/1993.
3. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xác lập quyền sở hữu Nhà nước:
a) UBND từ cấp huyện trở lên theo thẩm quyền ra quyết định xác lập sở hữu Nhà nước đối với tài sản đến thời hạn xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật.
b) Người đứng đầu hoặc cấp có thẩm quyền của cơ quan Nhà nước đối với tài sản được chủ sở hữu tài sản chuyển quyền sở hữu dưới hình thức cho tặng.
VI. TRÌNH TỰ XỬ LÝ CHUYỂN GIAO TÀI SẢN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC
Khi chuyển giao tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước, cơ quan ra Quyết định tịch thu (hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định) căn cứ vào quy định của Nhà nước, tính chất của tài sản và nội dung của quyết định, thực hiện chuyển giao tài sản và các giấy tờ liên quan đến tài sản theo quy định tại Khoản 5
Điều 8 và Khoản 3
Điều 9 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 1766/1998/QĐ.BTC cho cơ quan tài chính theo nguyên tắc sau:
Tài sản sung quỹ Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền thuộc cấp xã (phường, thị trấn) và cơ quan có thẩm quyền thuộc huyện (quận, thị xã) ra quyết định thì chuyển giao tài sản, giấy tờ cho Phòng tài chính huyện để xử lý.
Tài sản có quyết định thu sung quỹ Nhà nước hoặc tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền thuộc cấp tỉnh ra quyết định thì chuyển giao tài sản, giấy tờ cho Sở Tài chính - Vật giá để tổ chức xử lý.
Việc chuyển giao tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước cho cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước, cũng như giao cho cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng tài sản đó theo quy định tại Khoản 2
Điều 8 và Khoản 2, 3, 4
Điều 9 của quy chế ban hành theo Quyết định 1766/1998/QĐ.BTC và những quy định tại hướng dẫn này.
Các cơ quan ra quyết định hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tài sản sung quỹ Nhà nước có trách nhiệm bảo quản tài sản cho đến khi chuyển giao cho cơ quan tài chính tiếp nhận, bảo quản hoặc tiếp tục bảo quản tài sản đó theo ủy quyền của cơ quan tài chính cho tới khi hoàn tất việc xử lý. Trường hợp để xảy ra hư hỏng, mất mát tài sản phải xử lý đúng theo quy định hiện hành chính, đồng thời phối hợp cùng cơ quan tài chính tổ chức bán đấu giá những tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước.
IV. TRÌNH TỰ XỬ LÝ TÀI SẢN KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ SAU:
1. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định) thông báo bằng văn bản cho cơ quan tài chính cung cấp. Đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước của cơ quan tòa án đã được cơ quan thi hành án ra quyết định thì cơ quan thi hành án thông báo, chuyển giao hồ sơ cho cơ quan tài chính cùng cấp. Riêng đối với cấp Tỉnh chuyển giao tài sản tịch thu cho Trung tâm bán đấu giá thuộc Sở Tư pháp tổ chúc bán theo quy định (có sự tham gia của cơ quan tài chính).
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định định tịch thu) cơ quan tài chính phải tổ chức tiếp nhận hoặc ủy quyền cho cơ quan ra quyết định (hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định) tiếp tục bảo quản tài sản đó cho đến khi hoàn tất việc xử lý. Cụ thể như sau:
2.1. Đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và bảo vệ lâm sản:
Sau khi bàn giao cho cơ quan tài chính tổ chức tiếp nhận, cơ quan tài chính ủy quyền cho cơ quan ra Quyết định tiếp tục bảo quản đồng thờI xúc tiến các thủ tục để xử lý.
2.1.1. Đối với gỗ nhóm I, lâm sản hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ nhóm I, lâm sản khác để xếp loại quý hiếm, khi có Quyết định tịch thu của: UBND Tỉnh thì tổ chức bán đấu giá và do Hội đồng bán đấu giá cấp Tỉnh xử lý. Trong trường hợp các loại lâm sản này được Hội đồng định giá tài sản xác định là kém phẩm chất thì UBND Tỉnh quyết định phương thức bán theo đề nghị của Hội đồng định giá và cơ quan bảo quản tài sản tịch thu.
2.1.2. Đối với gỗ, lâm sản hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ không thuộc loại quý hiếm (từ nhóm 2 trở đi được xem như hàng hóa mau hỏng) có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên đối với mỗi quyết định xử lý(theo giá khởi điểm tại khung giá UBND Tỉnh ban hành) thì cơ quan ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp để tổ chức bán đấu giá hoặc bán thẳng (tùy từng điều kiện cụ thể) cho các đối tượng được phép sử dụng theo khung giá do UBND Tỉnh quy định. Việc bán lâm sản được tổ chức bán cố định một tuần từ một đến hai lần và có thông báo cụ thể. Việc tổ chức bán chỉ thực hiện sau khi cơ quan ra quyết định định tịch thu hoàn tất xong thủ tục bàn giao, nhận ủy quyền từ cơ quan tài chính.
Đối với gỗ, lâm sản hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ không thuộc loại quý hiếm (từ nhóm 2 trở đi) có giá trị dưới 10 triệu đồng trên một quyết định xử lý tịch thu thì cơ quan ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) tổ chức bán thẳng cho mọi đối tượng theo khung giá do UBND Tỉnh quy định.
2.1.3. Đối với một quyết định xử lý bao gồm cả gỗ, lâm sản, sản phẩm chế biến từ gỗ thì xử lý riêng như các Điểm 2.1.1, 2.1.2 nêu trên.
2.1.4. Đối với lâm sản khác (không thuộc loại trên) và động vật rừng còn sống, căn cứ vào từng loại thú rừng cụ thể, cơ quan kiểm lâm phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp tổ chức thả vào rừng hoặc bán cho cá nhân, tổ chức có cơ sở chăn nuôi được phép gây nuôi phát triển nghiên cứu khoa học, phục vụ nhu cầu văn hóa đời sống theo giá trị thị trường địa phương.
2.2. Đối với những tài sản thuộc diện phải tiêu hủy như văn hóa phẩm đồi trụy, ma túy….và tài sản cấm lưu hành chính, tài sản cần quản lý như: thuốc nổ, vủ khí, phương tiện phá rừng…thì cơ quan ra quyết định tịch thu cùng cấp UBND (tỉnh, huyện) phương án xử lý: tiêu hủy, tái xuất hoặc chuyển giao cho các cơ quan chức năng quản lý, sử dụng tài sản đó theo đúng quy định của Nhà nước.
2.3. Đối với phương tiện giao thông vận tải tịch thu.
2.3.1. Đối với xe ôtô 3, 4 bánh các loại sau khi bàn giao hồ sơ cho cơ quan tài chính tổ chức quyết định, cơ quan tài chính có thể ủy quyền lại cho đơn vị ra quyết định tiếp tục bảo quản và thực hiện các thủ tục bán đấu giá hoặc trình UBND Tỉnh ra quyết định chuyển cho các đơn vị, cơ quan Nhà nước có nhu cầu sử dụng.
2.3.2. Đối với xe 2 bánh các loại, xe thô sơ, ghe xuồng, ca nô… cơ quan ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) bàn giao tài sản và hồ sơ liên quan cho cơ quan tài chính cùng cấp. Tùy theo loại hàng hóa và điếu kiện kho bãi, cơ quan tài chính có thể tiếp nhận hay ủy quyền toàn bộ hay một phần trở lại cho cơ quan ra quyết định tịch thu(hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) bảo quản và tiến hành tổ chức bán đấu giá hoặc trình UBND Tỉnh (huyện) bán thẳng cho các cơ quan đơn vị Nhà nước có nhu cầu sử dụng.
2.4. Đối với tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước là bất động sản Nhà nước như nhà đất, vật kiến trúc sau khi cơ quan ra quyết định tịch thu và giao hồ sơ cho cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan tài chính làm thủ tục ủy quyền cho đơn vị ra quyết định tịch thu(hoặc cơ quan ra quyết định tịch thu) tiếp tục bảo quản cho đến khi xử lý xong. Quá trình bảo quản và chờ xử lý có thể đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định cho thuê, sử dụng cho nhu cầu cần thiết hợp lý khác nhằm tận thu cho ngân sách và bù đắp chi phí về quản lý tài sản theo chế độ quy định.
2.5. Đối với tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước là vàng bạc, ngoại tệ, đá quý, kim loại quý cơ quan ra Quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) nộp ngay vào kho bạc cùng cấp và chuyển giao hồ sơ tài sản liệu, chứng từ có liên quan cho Sở Tài chính -Vật giá để xử lý. Sở tài chính -Vật giá phối hợp với các ngành liên quan tiến hành giám định chất lượng, định giá và tổ chức bán nộp vào ngân sách Nhà nước.
2.6. Đối với các loại tài sản khác:
2.6.1. Đối với tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước là hàhg hóa vật phẩm dễ bị hư hỏng (các tài sản mà trong phạm vi từ 3 đến 5 ngày nếu không xử lý thì bị hư hỏng từ 50% - 100%) thì cơ quan ra Quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) tổ chức bán ngay.Số tiền thu được phải nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính cùng cấp mở tại kho bạc Nhà nước. Sau đó mới bàn giao hồ sơ cho cơ quan tài chính cùng cấp.
2.6.2. Đối với loại tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước khác như: Hàng kim khí điện máy,hàng công nghệ phẩm.v.v… thì cơ quan ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) bàn giao tài sản, hồ sơ liên quan cho cơ quan tài chính cùng cấp tiếp nhận để tổ chức bán. Nếu trị giá hàng tịch thu của mỗi quyết định từ 20 triệu đồng trở lên thì tổ chức bán đấu giá.
2.6.3. Đối với các tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước được xử lý chuyển giao cho các cơ quan chức năng sử dụng.
Đối với tài sản là bất động sản (nhà, đất) phải tổ chức đo vẽ lập hồ sơ, xác định giá trị còn lại và thực hiện thanh toán qua ngân sách Nhà nước bằng hình thức ghi thu, ghi chi cho cơ quan Nhà nước được nhận tài sản.
Đối với tài sản là động sản phải tổ chức giám định, xác định giá trị còn lại và cung cấp hồ sơ giấy tờ, hướng dẫn đơn vị nhận tài sản làm thủ tục đăng ký tài sản và hạch toán qua ngân sách Nhà nước được nhận tài sản.
3. Trong thời hạn không quá 30 ngày (đối với tài sản là hàng hóa thông thường), 60 ngày (đối với tài sản là ôtô, xe máy, máy móc, thiết bị…) kể từ ngày tiếp nhận các tài sản này, cơ quan tài chính hoặc cơ quan được ủy quyền xử lý tài sản phải tổ chức bán đấu giá các tài sản tịch thu để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Cơ quan tài chính cấp Tỉnh phải trình UBND Tỉnh ra quyết định thành lập Hội đồng định giá và bán đấu giá Tỉnh. Đối với Hội đồng định giá và bán đấu giá cấp huyện, UBND Tỉnh ủy quyền cho UBND huyện ra quyết định thành lập gồm: Lãnh đạo Phòng Tài chính làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan ra quyết định(hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu) làm Phó Chủ tịch Hội đồng, đại diện Phòng công nghiệp - Giao thông làm ủy viên. Tùy theo tính chất, mức độ quan trọng của tài sản tịch thu, Hội đồng quyết định mời thêm các thành viên có liên quan như Viện kiểm sát, Công an, cơ quan chuyên môn kỹ thuật… tham gia vào Hội đồng. Thời gian hoạt động của Hội đồng thực hiện theo quy định tại quyết định của UBND Tỉnh, huyện.
5. Phòng Tài chính các huyện, các đơn vị được ủy quyền bán tài sản tịch thu có trách nhiệm tổng hợp số liệu đã thực hiện về bán tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước vào cuối mỗi quý và báo cáo về sở Tài chính - Vật giá theo mẫu đính kèm.
V. QUY ĐỊNH QUẢN LÝ THU, CHI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN ĐƯỢC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
1. Toàn bộ số tiền thu được từ bán tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước kể cả tiền thu lệ phí bán đấu giá, tiền thu do vi phạm hợp đồng mua bán.v.v…(nếu có), cũng như giá trị tài sản với loại tài sản có quyết định điều động bàn giao cho các cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý sử dụng đều phải được tập trung vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính (Tỉnh hoặc huyện) mở tại kho bạc Nhà nước.
2. Toàn bộ các khoản thu từ việc xử lý tài sản sung công quỹ sau khi đã trừ đi các chi phí và trích thưởng phải nộp đầy đủ vào ngân sách Nhà nước và điều tiết cho các cấp ngân sách theo quyết định của UBND Tỉnh về phân chia tỷ lệ điều tiết giữa ngân sách các cấp hàng năm.
3. Cơ quan tài chính từ cấp huyện trở lên mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước cùng cấp để quản lý các khoản thu chi liên quan đến việc xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước, đồng thời cơ quan tài chính cấp huyện mở tiểu khoản riêng cho từng xã để theo dõi các khoản thu, chi về xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước của cấp xã.
4. Riêng đối với các xã, Thị trấn giáp biên giới thường xuyên phải tổ chức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chống buôn lậu thì thực hiện mở tài khoản tạm giữ tại kho bạc huyện để quản lý các khoản thu chi về công tác chống buôn lậu do lực lượng xã phát hiện, bắt giữ và xử lý.
5. Cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì tổ chức bán đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước được nhận tạm ứng từ tài khoản tạm giữ với mức tạm ứng tối đa không quá 5% trên giá trị (tính theo giá khởi điểm) của số tài sản bán trong cuộc đấu giá để có nguồn chi cho công tác tổ chức định giá, bán đấu giá, thông tin quảng cáov.v… Kết thúc cuộc đấu giá cơ quan tổ chức bán đấu giá đã tạm ứng phải thanh quyết toán tạm ứng theo chế độ.
6. Cơ quan tài chính căn cứ tính hợp lệ của các khoản chi phí có liên quan đến tài sản sung quỹ Nhà nước do HộI đồng đấu giá và cơ quan ra quyết định (hặc cơ quan đề nghị ra quyết định tịch thu) đề nghị để làm căn cứ chi trả cho các khoản sau:
Chi phí điều tra, xác minh, bắt giữ, xử lý vi phạm, khai quật bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, kiểm nghiệm, giám định tài sản .v.v…tới thời điểm chuyển giao cho cơ quan tài chính quản lý, xử lý và tổ chức bán. (Trường hợp cơ quan ra quyết định hoặc cơ quan đề nghị ra quyết định tịch thu đã được bố trí kho bãi, biên chế, kinh phí thường xuyên thì không thanh toán các chi phí liên quan đến việc vận chuyển, bảo quản tài sản).
Chi phí bảo quản , lưu kho, lưu bãi,vận chuyển bốc xếp..
Chi bổ sung kinh phí mua sắm phương tiện cần thiết phục vụ công tác bảo quản hàng hóa cho cơ quan ra quyết định và cơ quan bảo quản xử lý do cấp có thẩm quyền ra quyết định (UBND Tỉnh, hoặc UBND Huyện).
Chi phí công tác tổ chức định giá, bán đấu giá tài sản, chi bồi dưỡng, chi thưởng cho các tổ chức, cá nhân có thành tích phát hiện, xử lý … theo chế độ hiện hành chính của Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền quyết định .
Chi thuê giám định kỹ thuật, định giá tài sản (nếu có), chi sửa chữa tài sản (nếu có).
Cuối năm cơ quan xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước phải quyết toán kết quả thu chi về xử lý và bán tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước với cơ quan tài chính cùng cấp, Phòng Tài chính Huyện tổng hợp và thực hiện báo cáo định kỳ hàng quý năm với Sở Tài chính - Vật giá.
VI. XỬ LÝ VI PHẠM
Cơ quan ra Quyết định tịch thu (hoặc cơ quan đề xuất ra quyết định tịch thu ) và cơ quan trực tiếp quản lý, xử lý, bán các tài sản tịch thu và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước không thực hiện đúng hoặc cố tình vi phạm các quy định của hướng dẫn này đều phảI bị xử lý đúng pháp luật.
Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm quản lý và tổ chức xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước nếu cố tình làm thiệt hại, thất thoát tài sản về hiện vật hoặc giá trị đều phải bồi thường vật chất. Tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy tố trước pháp luật.