QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Về việc Ban hành Quy chế quản lý quỹ hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước giai đoạn 2001 – 2005 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/06/1994;
Căn cứ Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/10/1998 của Tỉnh ủy Bình Phước về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi – dân tộc tỉnh Bình Phước; -
Căn cứ nghị quyết số 122/2001/NQ-HĐ của HĐND tỉnh khóa VI, kỳ họp thứ tư thông quangày 19/7/2001 về việc điều chỉnh dự toán thu – chi ngân sách năm 2001; -
Xét yêu cầu của công tác thực hiện hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước và kết quả cuộc họp Ban Chỉ đạo 135 tỉnh với UBND các huyện, thị ngày 15/8/2001. QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Ban ban hành kèm theo Quyết định này Bản Quy chế quản lý quỹ hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước.
Điều 2
Các ông (bà) Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính – Vật giá, Sổ Kế hoạch & Đầu tư, Kho bạc Nhà nước, Ban Chỉ đạo 135 (theo Quyết định số 41/2001/QĐ-UB), Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, Công ty Xây dựng và KDPT nhà Bình Phước và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này kể từ ngày ký.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Tuấn Hưng
QUY CHẾ
Quản lý quỹ hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước giai đoạn 2001 - 2005
(Ban hành kèm theo Quyết định số 72/2001/QĐ-UB ngày 10-9-2001 của UBND tỉnh Bình Phước)
Điều 1
Tình hình chung
Thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/10/1998 của BCH tỉnh Đảng bộ về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi – dân tộc; trong những năm qua được sự hỗ trợ của Chính phủ cộng với sự phát huy tích cực nội lực của địa phương, đời sống kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ rệt: Số hộ đói nghèo từ 39,77% năm 1997 còn khoảng 25% vào cuối năm 2000. Một số hộ dân tộc đã biếtlàm trang trại với diện tích canh tác từ 0,5 ha đến 8 ha, cá biệt có hộ diện tích đến 50 ha. Từ đó, nhiều hộ có thu nhập khá cao từ 7 triệu đồng/năm đến 50,2 triệu đồng/năm, cá biệt có hộ thu nhập đến 200 triệu đồng/năm, nhà ở được xây dựng khang trang hơn.
Tuy vậy, số đông đồng bào dân tộc thiểu số vẫn sống trong mức nghèo, nhà ở tạm bợ, tranh tre là chủ yếu và thiếu các tiện nghi sinh hoạt. Việc hỗ trợ cho đồng bào dân tộc có nhà ở ổn định là điều kiện cần thiết để định canh định cư, nhằm nâng cao dân trí và mức sống cho cộng đồng đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
Điều 2
Đối tượng áp dụng:
Là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện được công nhận là hộ đói nghèo, đang ở trong những căn nhà tạm bợ làm bằng tranh tre nứa lá, hư hỏng nặng mà không có điều kiện cải thiện nhà ở. Những đối tượng này phải là những hộ cư trú hợp pháp tại địa phương vào thời điểm hỗ trợ nhà ở.
Điều 3
Nguồn huy động.
Để có kinh phí hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, UBND tỉnh thành lập “Quỹ hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước giai đoạn 2001 – 2005”. Sự hình thành của quỹ trên cơ sở thu hút các nguồn đóng góp như sau:
Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 1 phần hàng năm trong mục chi đảm bảo xã hội (Riêng năm 2001 là 12 tỷ đồng).
Vận động các tổ chức xã hội từ thiện trong, ngoài nước; các nhà hảo tâm, các Doanh nghiệp có nhiệt tâm ủng hộ.
Các tổ chức phi Chính phủ.
Các khoản đóng góp hợp pháp khác.
Điều 4
Số hộ - mức hỗ trợ nhà ở.
1. Kế hoạch hàng năm do UBND tỉnh báo cáo HĐND tỉnh thông qua.
2. Tùy theo số nhân khẩu từng hộ mà áp dụng 2 mức hỗ trợ:
Hộ từ 4 khẩu trở xuống: Hỗ trợ 1 căn nhà có diện tích 32m 2 – bao gồm tấm lợp (tôn tráng kẽm) và khung nhà – tương đương 5 triệu đồng.
Hộ từ 5 khẩu trở lên: Hỗ trợ 1 căn nhà có diện tích 40m 2 – bao gồm tấm lợp (tôn tráng kẽm) và khung nhà – tương đường 6 triệu đồng.
Điều 5
Cơ chế hoạt động.
Cơ chế hoạt động quỹ hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước thực hiện theo quy định sau:
Đối với nguồn ngân sách hỗ trợ: Ngân sách tỉnh sẽ chi bổ sung cho ngân sách huyện, thị theo hình thức trợ cấp có mục tiêu. Ngân sách huyện, thị sẽ chuyển vàotài khoản BCĐ 135 huyện,thị và hạch toán vào khoản chi đảm bảo xã hội.
Các nguồn huy động khác (ngoài ngân sách hỗ trợ) đều được tập trung vào tài khoản tiền gởi của BCĐ chương trình 135 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh để thực hiện việc kiểm soát và cấp phát. Tại các Ban Chỉ đạo 135 các huyện, thị mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện, thị để tiếp nhận nguồn vốn và thực hiện việc hỗ trợ cho các đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số.
UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo điều hành việc lập quỹ và phê duyệt kế hoạch chi tiêu quỹ hàng năm. Ban Chỉ đạo 135 của tỉnh có trách nhiệm tổng hợp kế hoạch do các huyện, thị đề nghị để tham mưu UBND tỉnh phê duyệt chỉ tiêu.
Sở Tài chính – Vật giá, Kho bạc Nhà nước tỉnh căn cứ vào chỉ tiêu hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được UBND tỉnh phê duyệt, lập thủ tục cấp kinh phí về huyện, thị xã để thực hiện.
UBND các huyện, thị xã (cụ thể là BCĐ 135 huyện, thị xã) thực hiện kế hoạch phân bổ của tỉnh, duyệt danh sách hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ nhà ở và tổ chức xây dựng nhà cho đồng bào.
Để đảm bảo mẫu mã đồng nhất và quy trách nhiệm cụ thể, UBND tỉnhchọn Công ty Xây dựng và Kinh doanh phát triển nhà Bình Phước là đơn vị cung cấp khung nhà và tấm lợp theo mẫu được chọn thống nhất trong toàn tỉnh. Đề nghị BCĐ 135 các huyện, thị xã liên hệ Công ty để thực hiện cụ thể.
UBND các xã, phường, thị trấn xây dựng kế hoạch cụ thể, thông qua 3 thường trực, tổ chức họp dân để bình chọn hộ được hỗ trợ, lập danh sách gởi về UBND huyện, thị xã phê duyệt.
Hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ nhà ở tự lo nền nhà và vách che xung quanh. Đối với trường hợp cábiệt, UBND xã, phường, thị trấn có thể vận động ủng hộ vách che cho đồng bào. Yêu cầu một căn hộ khi đồng bào nhận nhà ở phải sạch sẽ và khang trang.
Điều 6
Quy định chế tài
UBND xã, phường, thị trấn thành lập Ban giám sát gồm đại diện UBND, UB MTTQVN, Lao động – TBXH và các đoàn thể xã, phường, thị trấn để giám sát việc thực hiện hỗ trợ nhà ở cho đồng bào.
Khi nhà ở được lắp dựng hoàn thành phải có Biên bản nghiệm thu với các thành phần tham gia gồm: Chủ hộ, các thành viên Ban giám sát xã, phường, thị trấn, BCĐ chương trình 135 huyện, thị xã. biên bản này có giá trị làm tài liệu để kho bạc Nhà nước huyện, thị xã thanh toán và cũng là tài liệu để BCĐ 135 huyện, thị quyết toán với Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, thị.
Tất cả các khoản chi từ tài khoản tiền gửi của BCĐ 135 tỉnh, huyện, thị cuối năm đều phải hạch toán ghi thu – ghi chi qua ngân sách Nhà nước.
Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân (kể cả hộ đồng bào dân tộc thiểu số được cấp nhà ở) tự ý buôn bán, sang nhượng hoặc tự động di chuyển nhà ở đã xây dựng cho đồng bào.
Điều 7
Tổ chức thực hiện
Giao BCĐ 135 tỉnh, Sở Tài chính – Vật giá, Kho bạc Nhà nước, UBND các huyện, thị tổ chức thực hiện quy chế này.