QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI Về việc ban hành Phương án bán trả chậm nhà, vật liệu làm nhà ở cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ dân thuộc diện chính sách UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH -
Căn cứ
Điều 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994;
Căn cứ Quyết định số 154/2002/QĐ-TTg, ngày 12/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ;
Theo đề nghị của Liên Sở: Kế hoạch - đầu tư, Xây dựng, Tài chính - vật giá;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Nay ban hành Phương án giải quyết bán trả chậm nhà, vật liệu làm nhà ở cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ dân thuộc diện chính sách.
Điều 2
Các Ông (bà) Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban ngành của tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Vỹ Hà
PHƯƠNG ÁN
Về việc giải quyết bán trả chậm nhà, vật liệu làm nhà ở cho các
hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ dân thuộc diện chính sách
(Ban hành kèm theo Quyết định số 33/2003/QĐ-UB
ngày 02/4/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai)
I. TÌNH HÌNH CHUNG
1/ Tình hình nhà ở của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai:
Tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai ước khoảng 92.500 hộ, gồm 448.800 khẩu, trong đó:
+ Hộ sống ở vùng nông thôn: 90.527 hộ
+ Hộ sống ở vùng thành thị: 1.973 hộ
Tổng số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số: 38.597 hộ, gồm 156.147 khẩu chiếm 42% tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó:
+ Hộ sống ở vùng nông thôn: 29.086 hộ
+ Hộ sống ở khu vực đô thị: 1.531 hộ
2/ Tình hình nhà ở của đối tượng chính sách:
Tổng số đối tượng thuộc diện chính sách trên toàn tỉnh: 27.983 đối tượng, trong đó:
+ Số đối tượng đã được hỗ trợ 3.000.000 đồng: 4.652 đối tượng.
+ Số hộ được hỗ trợ theo Quyết định 20/TTg của Thủ tướng Chính phủ: 16 đối tượng, với số tiền 572.119.000 đ.
+ Số hộ được hỗ trợ theo Quyết định 118/TTg của Thủ tướng Chính phủ: 14 hộ, với số tiền 454.813.000 đ.
Theo thống kê 80% số hộ đồng bào dân tộc tại chỗ trên địa bàn tỉnh đã có nhà ở; số chưa có nhà ở, nhà ở chung nhiều thế hệ chiếm tỷ trọng không lớn (khoảng 20%). Đặc điểm đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Gia Lai tuy điều kiện kinh tế nghèo hơn nhưng hầu hết đã có nhà mặc dù chưa kiên cố, nhu cầu cải thiện, sửa chữa nhà ở là số đông, số nhà xây mới hoàn toàn không lớn. Mặt khác, vật liệu làm nhà tại địa phương tương đối phong phú và khai thác tại địa phương tương đối thuận lợi.
Nhìn chung các đối tượng cần hỗ trợ hiện nay đều ở nhà tạm hoặc cấp 4, đã hư hỏng, nhiều hộ ở chung một nhà, nhiều thế hệ, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu so với mặt bằng chung xã hội.
II.
MỤC TIÊU CỦA PHƯƠNG ÁN