QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH V/v: Ban hành Quy định về cai nghiện và chữa bệnh cho người nghiện ma túy và người bán dâm trên địa bàn tỉnh Bình Phước ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/06/1994.
Căn cứ Luật phòng chống ma túy ngày 01/06/2001. -
Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003. -
Căn cứ Nghị định số: 20/CP ngày 13/04/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế về Cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/07/1995; Nghị định số: 34/2002/NĐ-CP ngày 28/03/2002 của Chính phủ quy định về trình tự thủ tục và chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma túy đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. -
Xét đề nghị của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số 391/TTr-LĐTBXH ngày 11 tháng 8 năm 2003 và ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp tại Công văn số 32/TP-VBPQ ngày 22.8.2003. QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Nay ban hành kèm theo Quvết định này “Quy định về cai nghiện và chữa bệnh cho người nghiện ma túy và người mại dâm trên địa bàn tỉnh Bình Phước”.
Điều 2
Quyết định này thay thế Quyết định 2082/QĐ-UB ngày 08/11/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3
Các ông (bà) Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Công an tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Giám đốc Sở Y tế, Trưởng ban Tổ chức chính quyền; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và Thủ trưởng các cơ quan có liên quan căn cứ quyết định thi hành./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Văn Thỏa
QUY ĐỊNH
Về cai nghiện và chữa bệnh cho người nghiện ma túy và người mại dâm trên địa bàn tỉnh Bình Phước
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 77/2003/QĐ-UB ngày 01/9/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh)
Chương I:
Điều 1
Cai nghiện ma túy (sau đây gọi chung là cai nghiện) và chữa bệnh cho người mại dâm (sau đây gọi chung là chữa bệnh) là biện pháp cai nghiện, chữa bệnh bắt buộc kể cả bằng lao động sản xuất đối với tất cả đối tượng nêu tại điều 2 quy định này.
Điều 2
Đưa vào cai nghiện và chữa bệnh tất cả những người đã sử dụng trái phép chất ma túy bằng bất kỳ hình thức nào (được gọi là người nghiện ma túy) và người mại dâm có một trong những căn cứ sau:
a) Bị bắt quả tang trong khi đang sử dụng trái phép các chất ma túy, bị bắt quả tang trong khi đang có hành vi bán dâm.
b) Xét nghiệm của cơ quan Y tế về chất ma túy đối với người đó có kết quả dương tính (có chất ma túy trong cơ thể); có hồ sơ và tài liệu chứng minh đó là gái mại dâm chuyên nghiệp.
c) Có các tài liệu chứng minh người đó dã sử dụng trái phép các chất ma túy.
d) Bản thân người nghiện hoặc gia đình của người nghiện, người hành nghề bán dâm hoặc gia đình người bán dâm thừa nhận người đó đã sử dụng trái phép các chất ma túy, hành nghề bán dâm.
Điều 3
Công tác tổ chức cai nghiện, chữa bệnh phải được tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, thống nhất, đồng bộ, đồng loạt; Gắn liền với công tác phòng ngừa, đấu tranh và xử lý nghiêm minh với tội phạm về ma túy, mại dâm; Không để tái nghiện và phát sinh người nghiện ma túy, người mại dâm mới trên địa bàn toàn tỉnh.
Chương II:
Điều 4
Cơ sở cai nghiện, chữa bệnh tại quy định này là Trung tâm GDLĐ - TVL tỉnh Bình Phước là nơi tập trung cai nghiện, chữa bệnh bắt buộc đối với những người nghiện ma túy và người mại dâm bằng các biện pháp cắt cơn chữa bệnh, lao động sản xuất, học tập. rèn luyện thân thể. nhân cách và phẩm chất đạo đức.
Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trung tâm GDLĐ - TVL do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
Trung tâm GDLĐ - TVL tỉnh Bình Phước trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội quản lý và chịu sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trung tâm có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng để giao dịch hoạt động.
• Kinh phí hoạt động của Trung tâm gồm:
+ Đóng góp của bản thân hoặc gia đình người nghiện ma túy, người mại dâm.
+ Các khoảng thu từ kết quả lao động của người nghiện ma túy, người mại dâm đang cai nghiện và chữa bệnh tại Trung tâm.
+ Sự ủng hộ của cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước.
+ Sự hỗ trợ một phần kinh phí của Nhà nước.
Điều 5
Tổ chức chỉ đạo
a) Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, tệ nạn ma túy, tệ nạn mại dâm, HIV/AIDS cấp tỉnh.
b) Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm và HIV/AIDS (Sau đây gọi chung là Ban chỉ đạo cấp huyện)
c) Ở mỗi xã, phường, thị trấn thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm và HIV/AIDS (sau đây gọi chung là Ban chỉ đạo cấp xã) với các thành phần tương tự như Ban chỉ đạo cấp huyện.
d) Ở các thôn, xóm, bản, tổ nhân dân, thành lập Tiểu ban phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội gồm: Trưởng thôn, ấp là Trưởng Tiểu ban và các thành viên là Bí thư chi bộ. đại diện các doàn thể, công an khu vực hoặc công an viên.
e) Các cơ quan, xí nghiệp, trường học đều phải thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội của cơ quan, đơn vị mình, thành phần gồm: Thủ trưởng đơn vị, Bí thư cấp ủy Đảng và một số cán bộ đại diện các đoàn thể, phòng, ban có liên quan.
f) Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống AIDS và tệ nạn ma túy, mại dâm các cấp được sử dụng con dấu của Ủy ban nhân dân cùng cấp để giao dịch.
Chương III:
Điều 6
Người nghiện ma túy và người mại dâm thực hiện quy trình cai nghiện và chữa bệnh 3 giai đoạn cụ thể như sau:
1. Giai đoạn 1:
Được áp dụng tại khu điều trị của Trung tâm GDLĐ - TVL tỉnh Bình Phước. Đó là dùng các biện pháp y tế để cắt cơn (đối với người nghiện ma túy) và chữa bệnh (đối với người mại dâm), sau đó cho luyện tập và lao động để nâng dần thể lực, cụ thể như sau:
1.1. Đối với người nghiện ma túy:
Bước 1: Từ 7 đến 10 ngày, chủ yếu dùng các biện pháp y tế để cắt cơn cho người nghiện ma túy.
Bước 2: Thời gian tiếp theo của giai đoạn 1, người nghiện ma túy phải thực hiện những quy định sau:
Lao động từng bước từ nhẹ đến nặng, luyện tập thể dục thể thao, kết hợp vui chơi giải trí lành mạnh.
Viết bản kiểm điểm quá trình sai phạm khi chưa đưa vào Trung tâm cai nghiện, cam đoan sửa chữa, tố giác người sử dụng, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển các chất ma túy.
1.2. Đối với người mại dâm:
Bước 1: Từ 03 đến 07 ngày, chủ yếu dùng các biện pháp y tế để chữa các bệnh xã hội.
Bước 2: Thời gian tiếp theo của giai đoạn 1, người mại dâm phải thực hiện những quy định sau:
Lao động, học tập, sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao kết hợp vui chơi giải trí lành mạnh.
Viết bản kiểm điểm quá trình sai phạm khi chưa đưa vào Trung tâm chữa bệnh, cam đoan sửa chữa và quyết tâm từ bỏ không tái phạm.
Đối với đối tượng tự nguvện toàn bộ chi phí ăn uống phục vụ cho người nghiện ma túy, giai đoạn này đều do người nghiện ma túy và gia đình người nghiện ma túy chịu trách nhiệm, kể cả việc chăm sóc người nghiện ma túy khi cần thiết như lên cơn vật và ốm đau.
Đối với đối tượng bắt buộc kinh phí Nhà nước hỗ trợ một phần và một phần kinh phí của kết quả lao động được chi vào mục đích cai nghiện, chữa bệnh.
1.3. Hết thời hạn 3 tháng người nghiện ma túy, người mại dâm sẽ được xét chuyển sang giai đoạn 2 (Khu sản xuất của Trung tâm GDLĐ - TVL) nhưng phải có đủ các điều kiện sau:
+ Chấp hành tốt quy trình cai nghiện, chữa bệnh, lao động, luyện tập và tham gia các hoạt động ở giai đoạn 1 (Tại khu điều trị). Không có vi phạm, tự giác chấp hành các nội quy, quy định, quy chế đề ra, qua các lần xét nghiệm của cán bộ Y tế kiểm tra xác định âm tính đối với chất ma túy (Đối tượng nghiện ma túy).
+ Sức khỏe đã hồi phục, tích cực tham gia các công việc được giao, có thể lao động để nuôi sống bản thân nếu được chuyển sang giai đoạn 2 (Khu sản xuất).
+ Người nghiện ma túy, người bán dâm tình nguyện viết đơn xin chuyển đến cai nghiện, chữa bệnh tại khu sản xuất của Trung tâm và viết bản cam đoan chịu mọi hình thức kỷ luật khi bỏ trốn và đã bị bắt lại.
Những trường hợp đặc biệt người nghiện ma túy, người bán dâm có hoàn cảnh khó khăn nhưng trong quá trình cai nghiện, chữa bệnh tại giai đoạn 1 có sức khỏe và có ý thức tổ chức kỷ luật tốt thì giám đốc Trung tâm có thể xét chuyển sang giai đoạn 2 trước thời hạn nhưng thời gian cai nghiện, chữa bệnh của giai đoạn 1 không được dưới 60 ngày.
Những trường hợp không đủ điều kiện xét chuyển sang giai đoạn 2 thì phải tiếp tục chữa trị, rèn luyện ở giai đoạn 1 đến khi đủ điều kiện chuyển sang giai đoạn 2 để tiếp tục cai nghiện, chữa bệnh bằng lao động, học tập ... Đối với các trường hợp cai nghiện, chữa bệnh tại nhà nhưng sau đó nếu có đủ diều kiện đưa vào cai nghiện, chữa bệnh tập trung thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn làm thủ tục đề nghị HĐTV huyện, thị quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện, chữa bệnh.
2. Giai đoạn 2: Là giai đoạn được áp dung tại khu sản xuất của Trung tâm GDLĐ - TVL tỉnh Bình Phước. Trong giai đoạn này người nghiện ma túy và người bán dâm phải cai nghiện và phục hồi nhân phẩm bằng lao động nhằm phục hồi sức khỏe ở trạng thái ổn định, bình thường, thời gian từ 12 tháng đến 21 tháng. Trường hợp đặc biệt có thể kéo dài thời gian lao động chữa bệnh đến khi sức khỏe ổn định.
2.1 . Những đối tượng sau đây được đưa vào cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 2 tại khu sản xuất của Trung tâm GDLĐ - TVL tỉnh Bình Phước.
a) Người nghiện ma túy, người mại dâm đã cai nghiện và chữa bệnh xong giai đoạn 1 (tại khu điều trị của Trung tâm) và người nghiện ma túy đang cai nghiện tại nhà nhưng có đủ điều kiện quy định tại giai đoạn 1 thì được vào tiếp tục cai nghiện tại giai đoạn 2.
b) Người nghiện ma túy, người mại dâm đã bị bắt, đã đi cải tạo tại các trại tạm giam, trại giam trả về địa phương nhưng có thời gian ở các trại dưới 12 tháng (trừ những trường hợp có giấy xác nhận của Trại xác nhận đã hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh ở giai đoạn 2).
c) Người nghiện ma túy, người mai dâm đã bị bắt, đã đi cải tạo có thời gian ở các trại trên 12 tháng nhưng các trại giam, Trại tạm giam yêu cầu về địa phương cai nghiện, chữa bệnh tiếp giai đoạn 2.
2.2. Trong thời gian ở khu sản xuất của Trung tâm GDLĐ - TVL người nghiện ma túy, người mại dâm phải tiếp tục cai nghiện, chữa bệnh chủ yếu bằng lao động để phục hồi sức khỏe, vừa tạo ra sản phẩm nuôi sống bản thân và chi cho các hoạt động khác phục vụ cai nghiện, chữa bệnh. Nếu người nghiện ma túy, người mại dâm có đủ các điều kiện sau thì được Giám đốc Trung tâm GDLĐ - TVL xét cho về cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 (tại gia đình và cộng đồng).
a) Có đủ thời gian lao động, cai nghiện, chữa bệnh từ 12 tháng trở lên (không tính những ngày nghỉ ốm hoặc bị phạt do vi phạm kỷ luật).
b) Sức khỏe đã ổn định bình thường, có tinh thần lao động tích cực được tập thể những người cùng cai nghiện, chữa bệnh công nhận.
c) Có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, trong thời gian cai nghiện, chữa bệnh lao động tại khu sản xuất không có vi phạm hoặc có vi phạm nhưng đã tích cực sửa chữa, được tập thể những người cùng cai nghiện, chữa bệnh: Giám đốc Trung tâm GDLĐ - TVL công nhận tiến bộ các lần xét nghiệm đều không có chất ma túy trong cơ thể (đối với người nghiện ma túy), không còn mắc các bệnh xã hội (đối với người mại dâm).
d) Người nghiện ma túy, người mại dâm và gia đình phải có đơn (được cơ quan, đoàn thể cấp thôn, ấp, xã, phường xác nhận bảo lãnh) gửi Giám đốc Trung tâm. Ủy ban nhân dân cấp huyện cam kết khi về cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 (tại gia đình, xã, phường, thị trấn và cộng đồng) chấp hành nghiêm túc những quy định về quản lý cai nghiện, chữa bệnh, bố trí được công ăn việc làm ổn định, không tái nghiện và tái phạm.
2.3. Sau khi có quyết định cho người nghiện ma túy, người mại dâm cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 tại cộng đồng, Giám đốc Trung tâm GDLĐ - TVL, cán bộ phòng nghiệp vụ (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội) phải tổ chức lập biên bản bàn giao người nghiện ma túy, người mại dâm cho Ban chỉ đạo cấp xã, Tiểu ban Phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội thôn, ấp ... và gia đình để quản lý, giám sát, theo dõi, giúp đỡ người nghiện ma túy, người mại dâm tại cộng đồng.
3. Giai đoạn 3 : là giai đoạn người nghiện ma túy, người mại dâm phải tiếp tục lao động, học tập, rèn luyện, cai nghiện, chữa bệnh tại gia đình, xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú với hình thức tự giác, thời gian từ 02 năm (24 tháng) trở lên.
Trong quá trình cai nghiện, chữa bệnh ở giai đoạn này, người nghiện ma túy, người bán dâm được sinh hoạt, lao động sản xuất và học tập cùng với gia đình và cộng đồng, nhưng phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy định cai nghiện ma túy, chữa bệnh phục hồi của tỉnh và những điều đã cam kết trước khi về cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3.
3.1. Những đối tượng sau đây được đưa vào diện cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3:
a) Đã có quyết định hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh ở giai đoạn 2.
b) Đối với người nghiện ma túy, người mại dâm được Ban chỉ đạo cấp huyện, thị cho cai nghiện, chữa bệnh tại nhà và đã đủ các điều kiện chuyển sang cai nghiện, chữa bệnh ở giai đoan 3.
c) Người nghiện ma túy, người mại dâm đà bị bắt, đã đi cải tạo có thời gian ở các trại tạm giam, trại giam trên 12 tháng, có ý thức phấn đấu tốt, được các trại trả về địa phương.
3.2. Người cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 có trách nhiệm:
Đối với đối tượng nghiện ma túy:
a) Tích cực lao động để đảm bảo cuộc sống.
b) Tố giác người sử dụng, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ chất ma túy, góp phần làm trong sạch, lành mạnh môi trường xã hội.
c) Không quan hệ với người sử dụng, buôn bán. tàng trữ. vận chuyển chất ma túy.
d) Khi bị bệnh cần dùng thuốc phải đến khám bệnh tại các cơ sở Y tế Nhà nước và phải báo cáo Ban chỉ đạo cấp xã về việc dùng các loại thuốc chữa bệnh.
e) Khi có việc cần đi khỏi địa phương từ 2 ngày trở lên phải viết đơn xin phép (có xác nhận của trưởng thôn, ấp) và phải được Ban chỉ đạo cấp xã đồng ý; Sau đó phải báo cáo Ban chỉ đạo cấp xã và Tiểu ban Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội thôn, ấp về những công việc đã làm trong những ngày vắng mặt ở địa phương.
f) Viết báo cáo kết quả cai nghiện trong tháng và đề ra phương hướng tháng tới nộp cho Trưởng Tiểu ban Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội thôn, ấp vào ngày 25 hàng tháng.
Đối với người mại dâm:
Tích cực lao động để đảm bảo cuộc sống.
Vận động, giáo dục các chị em lầm lỡ xây dựng cuộc sống lương thiện, hạnh phúc góp phần làm trong sạch, lành mạnh môi trường xã hội.
Khi có việc cần đi khỏi địa phương từ 2 ngày trở lên phải viết đơn xin phép (có xác nhận của Trưởng thôn, ấp) và phải được Ban chỉ đạo cấp xã đồng ý.
Viết bản báo cáo phấn đấu của bản thân trong quá trình chữa bệnh, lao động tại cộng đồng và gia đình nộp cho Tiểu ban Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội thôn, bản vào ngày 25 hàng tháng.
3.3. Gia đình người nghiên ma túy, người bán dâm phải chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ người cai nghiện, chữa bệnh và thực hiện đúng cam kết. Người nghiện ma túy, người bán dâm độc thân do chính quyền, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ sở chịu trách nhiệm quản lý.
3.4. Các thành viên trong Tiểu ban Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội thôn, ấp có trách nhiệm tổ chức, phân công lực lượng cùng cộng đồng theo dõi, giám sát quá trình cai nghiện, chữa bệnh tự giác của người nghiện ma túy, người bán dâm. Ngày 25 hàng tháng cán bộ cảnh sát phụ trách địa bàn hoặc công an viên yêu cầu người nghiện ma túy, người mại dâm nộp báo cáo kết quả cai nghiện, chữa bệnh trong tháng. Trưởng Tiểu ban phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ghi nhận xét vào báo cáo của người nghiện ma túy, người bán dâm nộp cho Ban chỉ đạo cấp xã.
Nhận xét của Trưởng Tiểu ban Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội cần nêu rõ các kiến nghị theo 3 hướng sau:
Tiếp tục để cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 tại gia đình, cộng đồng (Nếu phấn đấu tốt).
Đề nghị cơ quan chức năng lập hồ sơ truy tố (nếu xác định có dấu hiệu phạm tội) theo quy định của pháp luật.
Đề nghị đưa trở lại Cơ sở chữa bệnh (nếu có vi phạm những điều đã cam kết, không chấp hành quy chế cai nghiện, chữa bệnh của tỉnh và các quy định của địa phương).
Điều 7
Đối tượng nghiện ma túy, người mại dám là học sinh các trường phổ thông thì buộc phải đình chỉ học tập để đưa vào chữa bệnh, cai nghiện tại Trung tâm Giáo dục lao dộng Tạo việc làm đến hết giai đoạn 2 (độ tuổi được áp dụng tại khoản 2 điều 26 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và điều 15 Nghị định 34/2002/NĐ-CP của Chính phủ).
Khi chấp hành xong thời gian cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 2, nếu đối tượng cai nghiện, chữa bệnh thực sự tiến bộ thì được chuyển sang cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 và tiếp tục được vào học tại các trường phổ thông. Ngoài sự quản lý của cộng đồng, học sinh đó còn chịu sự quản lý chặt chẽ của tập thể lớp học, giáọ viên chủ nhiệm và nhà trường.
Học sinh - sinh viên các trường Đai học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề nếu nghiện ma túy, hành nghề mại dâm thì bị buộc đình chỉ học tập để đưa vào cai nghiện, chữa bệnh theo đúng quy định tại quy định này.
Điều 8
Đối tượng nghiện ma túy, người mại dâm là cán bộ, công chức Nhà nước cũng phải chấp hành cai nghiện ma túy, chữa bệnh phục hồi bắt buộc theo quy định này.
Điều 9
Trong thời gian cai nghiện, chữa bệnh nếu người nghiện ma túy. người mại dâm có hành vi vi phạm nội quy, quy chế hoặc phạm tội thì tùy theo mức độ nặng nhẹ sẽ bị xử lý bằng hình thức kéo dài thời gian cai nghiện, chữa bệnh hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Nếu người nghiện ma túy, người mại dâm bỏ trốn khỏi Trung tâm Giáo dục lao động - Tạo việc làm hoặc trốn khỏi địa phương thì Trung tâm Giáo dục lao động Tạo việc làm và Ủy ban nhân dân các cấp nơi người nghiện ma túy, người bán dâm đăng ký hộ khẩu thường trú có trách nhiệm yêu cầu gia đình người nghiện ma túy, người mại dâm phối hợp với chính quyền địa phương truy tìm và tổ chức đưa người nghiện ma túy, người mại dâm trở lại và tiếp tục cai nghiện, chữa bệnh từ giai đoạn 1 tại Trung tâm Giáo dục Lao dộng -Tạo việc làm tỉnh Bình Phước.
Đối tượng đang trong thời gian cai nghiện, chữa bệnh mà bỏ trốn về địa phương nơi người đó cư trú thì địa phương nơi người đó cư trú có trách nhiệm tổ chức đưa đối tượng trở lại cơ sở cai nghiện, chữa bệnh. Trong thời gian 01 tháng (kể từ ngày ra thông báo) mà chưa bắt được đối tượng đưa lại cơ sở cai nghiện, chữa bệnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn ra quyết định cắt bỏ hộ khẩu đối với đối tượng đó. Nếu đối tượng về địa phương nơi đối tượng cư trú mà địa phương đó không tổ chức đưa đối tượng trở lại cơ sở cai nghiện, chữa bệnh thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân địa phương đó hoàn toàn chịu trách nhiệm với cấp trên.
Điều 10
Ủy ban Nhân dân cấp huyện, Trung tâm Giáo dục lao động - Tạo việc làm có trách nhiệm tổ chức xét nghiệm chất ma túy, HIV/AIDS định kỳ và đột xuất đối với người đang cai nghiện, chữa bệnh. Các cơ sở Y tế có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân các cấp và Cơ sở cai nghiện thực hiện việc xét nghiệm chất ma túy, HIV/AIDS.
Điều 11
Công nhận hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh:
Người nghiện ma túy, người bán dâm ở giai đoạn 3 nếu có điều kiện sau thì được Ban chỉ đạo cấp xã xem xét và đề nghị Ban chỉ đạo cấp huyện công nhận hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh:
1. Có đủ thời gian cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 3 ít nhất là 24 tháng.
2. Chấp hành nghiêm chỉnh Quy định cai nghiện, chữa bệnh và những quy định của chính quyền địa phương, các lần xét nghiệm đều không có biểu hiện sử dụng chất ma túy (đối với đối tượng nghiện ma túy) và không còn mắc các bệnh xã hội (đối với đối tượng mại dâm).
3. Có bản tự kiểm đánh giá quá trình cai nghiện, chữa bệnh của bản thân được mọi người trong thôn, bản, tổ nhân dân công nhận có tiến bộ hoặc có thành tích suất sắc (Bằng bỏ phiếu kín hoặc giơ tay biểu quyết trong cuộc họp thôn, ấp, khu dân cư và được Tiểu ban phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội xác nhận, đề nghị.
4. Có đề nghị của nhà trường (nếu là học sinh phổ thông) hoặc cơ quan quản lý (nếu là cán bộ công chức, người lao động).
Điều 12
Tái nghiện, tái phạm:
Người đang cai nghiện, chữa bệnh ở giai đoạn 3, người đã được công nhận hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh mà sử dụng trái phép chất ma túy và hành nghề mại dâm là tái nghiện, tái phạm:
Người tái nghiện, tai phạm mà có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì cơ quan Công an lập hồ sơ truy tố theo quy định của pháp luật.
Người tái nghiện, tái phạm chưa bị phát hiện nhưng tự giác xin cai nghiện, chữa bệnh lại từ giai đoạn 1 thì sẽ được chấp nhận, nhưng tùy theo mức độ, thời gian cai nghiện, chữa bệnh có thể kéo dài hơn.
Những trường hợp tái phạm mà không tự giác đến Trung tâm để cai nghiện, chữa bệnh thì sẽ bị bắt buộc chữa bệnh, cai nghiện lại từ giai đoạn đầu của quy trình cai nghiện theo quy định này.
Điều 13
Các hình thức cai nghiện ma túy, chữa bệnh phục hồi:
1. Thực hiện cai nghiện, chữa bệnh theo đúng quy trình cai nghiện 3 giai đoạn quy định tại điều 8 của Quy định này.
2. Cai nghiện, chữa bệnh tại nhà cho đến khi hết giai đoạn 3 đối với các trường hợp đặc biệt, do Ban chỉ đạo cấp huyện quyết định khi có một trong các điều kiện sau:
a) Có bệnh tật, sức khỏe rất yếu, nếu đưa vào cai nghiện, chữa bệnh tập trung rất dễ xảy ra tử vong (Có xác nhận của cơ quan Y tế).
b) Có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nếu đưa đối tượng vào cai nghiện, chữa bệnh thì không ai có thể thay thế được để duy trì cuộc sống, sinh hoạt của gia đình họ. Trường hợp này phải có sự quản lý, giám sát thường xuyên và sự giúp đỡ của chính quyền, đoàn thể cấp xã và thôn ấp trong suốt quá trình cai nghiện, chữa bệnh tại nhà.
c) Người nghiện ma túy, người mại dâm dưới 16 tuổi hoặc người nghiện ma túy trên 60 tuổi.
Khi cai nghiện, chữa bệnh tại nhà, người nghiện ma túy, người mại dâm phải cam kết chịu sự quản lý của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và cộng đồng; gia đình của các đối tượng phải cam kết quản lý người nghiện, người mại dâm theo đúng quy định cai nghiện, chữa bệnh.
Chương IV:
Điều 14
Hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện, chữa bệnh:
1. Hồ sơ đối với đối tượng bắt buộc gồm:
Quyết định của chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện, chữa bệnh.
Sơ yếu lý lịch của người cai nghiện, người bán dâm.
Bản tự khai, tự kiểm điểm và biên bản ghi lời khai của người nghiện ma túy, người mại dâm do Công an xã, phường, thị trấn hoặc do các lực lượng khác của ngành Công an thực hiện.
Giấy khám sức khoẻ, các biện pháp cai nghiện, chữa bệnh đã áp dụng.
Tài liệu về hành vi vi phạm pháp luật.
Nhận xét của Công an cấp xã, ý kiến của UBMTTQ và đoàn thể tổ chức xã hội mà người đó là thành viên.
2. Hồ sơ đối với người cai nghiện, chữa bệnh tự nguyện:
Đơn xin vào cai nghiện, chữa bệnh của người nghiện ma túy, người mại dâm hoặc gia đình có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú. Đối với người nghiện ma túy, người mại dâm dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp.
Sơ yếu lý lịch của người nghiện ma túy, người bán dâm.
Bán cam kết của người tự nguyện cai nghiện, chữa bệnh.
Giấy khám sức khỏe và bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận tạm trú dài hạn (kèm theo bản chính để đối chiếu)
Bản tự khai tự kiểm điểm các lần sử dụng ma túy, hành nghề bán dâm của người nghiện ma túy, người bán dâm.
Điều 15
Thủ tục đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh được áp dụng theo trình tự thủ tục tại mục 4
Chương 7 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
Chương V:
Điều 16
Người cai nghiện ma túy, người bán dâm có nghĩa vụ:
Đối với người nghiện ma túy:
1. Người đã sử dụng ma túy phải tự giác đi cai nghiện nếu không sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
2. Phải khai báo đầy đủ những sai phạm của bản thân và của người khác mà mình biết.
3. Chấp hành nghiêm pháp luật, các quy định hiện hành của Nhà nước và Quy định cai nghiện của tỉnh.
4. Chấp hành nội quy, quy định của Trung tâm; chịu sự quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan có thẩm quyền và Trung tâm trong suốt quá trình cai nghiện ma túy.
5. Người nghiện ma túy phải tự túc tiền ăn, quần áo, tư trang cá nhân và mọi chi phí trong quá trình cai nghiện.
Đối với người mại dâm:
1. Các đối tượng mại dâm phải tự giác đi chữa bệnh nếu không sẽ bị áp dụng cưỡng chế, bắt buộc chữa bệnh theo quy định.
2. Phải khai báo đầy đủ những sai phạm của bản thân và của người khác vi phạm mà mình biết.
3. Chấp hành nghiêm pháp luật, các quy định hiện hành của Nhà nước và quy định cai nghiện, chữa bệnh của tỉnh.
Điều 17
Quyền lợi của người cai nghiện, chữa bệnh:
1. Được điều trị và chữa bệnh thông thường.
Trường hợp người nghiện ma túy, người mại dâm mắc các bệnh vượt quá khả năng điều trị của Trung tâm thì được chuyển đến cơ quan Y tế của Nhà nước để điều trị.
2. Được luyện tập, học nghề hoặc kỹ thuật sản xuất để lao động, sản xuất và được hưởng thành quả lao động do bản thân làm ra.
3. Được tham gia vui chơi, giải trí lành mạnh: được nghỉ những ngày lễ, tết, chủ nhật và khi ốm đau tại nơi cai nghiện, chữa bệnh.
Thời gian nghỉ ốm và thời gian điều trị bệnh không tính vào thời gian cai nghiện, chữa bệnh.
4. Người nghiện ma túy, người mại dâm bị tai nạn lao động trong quá trình cai nghiện, chữa bệnh thì được điều trị tại các cơ sở Y tế Nhà nước và được Trung tâm hỗ trợ một phần chi phí điều trị tai nạn lao động (Kinh phí trích từ kết quả lao động của Cơ sở chữa bệnh).
5. Được trợ cấp tiền thuốc chữa bệnh, tiền học nghề, tiền mua sắm vật dụng cá nhân ... được hưởng tiền công lao động để trang trải chi phí ăn uống, có quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật.
6. Người nghiện ma túy, người mại dâm bị chết khi đang chấp hành cai nghiện, chữa bệnh thì Trung tâm phải báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra, xác định nguyên nhân chết, đồng thời thông báo cho thân nhân người chết biết. Trung tâm có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương và thân nhân người chết để mai táng. Trường hợp người chết không có thân nhân hoặc thân nhân không đến kịp thì Trung tâm phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức mai táng theo thông lệ.
7. Được cấp giấy chứng nhận hết thời hạn chữa bệnh và lao động bắt buộc.
Chương VI:
Điều 18
Ngành Công an có trách nhiệm:
1. Lập, theo dõi, quản lý hồ sơ của tất cả các đối tượng nghiện ma túy, hành nghề bán dâm (kể cả số trốn cai nghiện, chữa bệnh, đang cải tạo tại các trạm giam; đi chữa bệnh ... ). Phối hợp cùng với Trung tâm GDLĐ - TVL để lấy lời khai, hoàn chỉnh hồ sơ và quản lý hồ sơ trong quá trình cai nghiện, chữa bệnh ở tất cả các giai đoạn.
2. Tổ chức điều tra, đấu tranh truy quét các đối tượng mại dâm, buôn bán, tàng trừ, vận chuyể, sử dụng trái phép chất ma túy và đưa người nghiện ma túy, người bán dâm vào các Trung tâm khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 19
Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm phối hợp với ngành Công an, Y tế., Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã kiểm tra chỉ đạo công tác tổ chức quản lý cai nghiện, chữa bệnh. Hỗ trợ đào tạo nghề, hướng dẫn vay vốn giải quyết việc làm cho người nghiện ma túy, người bán dâm sau khi hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh giai đoạn 2.
Điều 20
Ngành Y tế có trách nhiệm:
1. Chỉ đạo chuyên môn về công tác điều trị cai nghiện ma túy, chữa bệnh phục hồi.
2. Trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ sở cai nghiện, chữa bệnh điều trị cắt cơn nghiện, khám, chữa bệnh thông thường và kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy, HIV/AIDS để xác định người có sử dụng chất ma túy.
3. Phối hợp với các cơ sở cai nghiện, chữa bệnh lập sổ theo dõi sức khỏe người nghiện ma túy, người bán dâm trong các giai đoạn cai nghiện ma túy, chữa bệnh phục hồi.
Điều 21
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã có trách nhiệm chỉ đạo sâu sắc các ngành, các đoàn thể đặc biệt là Công an và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc tổ chức đưa đối tượng trở lại Trung tâm GDLĐ - TVL tỉnh Bình Phước khi đối tượng đang cai nghiện, chữa bệnh mà bỏ trốn, và có những biện pháp xử lý kiên quyết đối với các trường hợp đối tượng bỏ trốn và vi phạm nội qui, quy chế của Trung tâm nhiều lần, khi có đề nghị của Giám đốc Trung tâm. Đồng thời Ủy ban nhân dân huyện, thị xã tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng sau cai nghiện, chữa bệnh về địa phương có công ăn việc làm ổn định.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm chỉ đạo cho các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đặc biệt là Công an và gia đình khi hoàn thành cai nghiện, chữa bệnh ở giai đoạn 2 (Tại Trung tâm GDLĐ - TVL) đưa về địa phương tiếp tục cai nghiện, chữa bệnh tại giai đoạn 3 (Cộng đồng, gia đình). Đồng thời phát hiện, báo cáo kịp thời các hành vi tái nghiện, tái phạm và các trường hợp đối tượng đang cai nghiện, chữa bệnh mà bỏ trốn về địa phương lên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện, thị xã để có biện pháp xử lý.
Đối với đối tượng đang cai nghiện, chữa bệnh tại Trung tâm mà không chấp hành quyết định bỏ trốn về địa phương nơi người đó cư trú thì địa phương đó có trách nhiệm báo cấp trên để phối hợp tổ chức đưa đối tượng đó trở lại Trung tâm. Nếu địa phương đó cố tình không báo cáo, hoặc không phối hợp với các lực lượng khác dể tổ chức đưa đối tượng đó trở lại Trung tâm thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân địa phương đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với cấp trên.
Điều 22
Các ngành, các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh phối hợp các đoàn thể có trách nhiệm đấu tranh phòng chống ma túy, mại dâm trong nội bộ cơ quan và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp tham gia tổ chức thực hiện công tác phòng chống ma túy, mại dâm trên địa bàn toàn tỉnh.
Chương VII:
Điều 23
Tập thể, cá nhân có thành tích trong việc tổ chức cai nghiện ma túy, chữa bệnh phục hồi được khen thưởng theo chế độ quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 24
Mỗi đối tượng vi phạm quy định của Nhà nước và của tỉnh về cai nghiện, chữa bệnh thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 25
Quy định này được phổ biến rộng rãi đến toàn thể nhan dân, các cấp các, ngành trên địa bàn toàn tỉnh.