NGHỊ QUYẾT Thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lai Châu đến năm 2015, có
xét đến năm 2020 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU KHOÁ XII, KỲ HỌP THỨ 13
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003;
Căn cứ Luật Khoáng sản năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 160/NĐ-CP ngày 27/12/2006 của Chính phủ về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khoáng sản.
Căn cứ công văn số 1029/BCT-CNNg, ngày 6/11/2008 của Bộ Công Thương về việc góp ý kiến về quy hoạch khoáng sản.
Sau khi xem xét Tờ trình số 1081/TTr-UBND ngày 21/11/2008 của ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lai Châu đến năm 2015, có xét đến năm 2020; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp, QUYẾT NGHỊ:
Điều 1 . Thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lai Châu đến năm 2015, có xét đến năm 2020. Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số nội dung sau đây:
I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản phải phù hợp với yêu cầu củng cố an ninh quốc phòng, đảm bảo môi trường sinh thái, bảo vệ các di sản thiên nhiên và di tích lịch sử, bảo vệ các công trình có vị trí chiến lược quốc gia (như thủy điện Lai Châu, Bản Chát) và có giá trị văn hoá.
Phát triển hoạt động khai thác khoáng sản phải chú trọng lồng ghép đầu tư điều tra đánh giá, thăm dò; phải gắn với chế biến có quy mô và mức độ phù hợp trên cơ sở khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên và đảm bảo hài hòa lợi ích của Tỉnh và của Quốc gia.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản trên cơ sở phát huy hiệu quả nguồn lực của các thành phần kinh tế trong, ngoài tỉnh và quốc tế.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản với công nghệ tiên tiến hợp lý, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng và sức cạnh các sản phẩm nguyên liệu khoáng.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN.
1. Ưu tiên, khuyến khích và đẩy mạnh khai thác các mỏ, điểm khoáng sản nằm trong vùng ngập lòng hồ các công trình thủy điện lớn Sơn La, Bản Chát, Huội Quảng (đều dự kiến đóng đập tích nước vào năm 2010-2012) và Lai Châu.
2. Kết hợp khai thác quy mô vừa với quy mô nhỏ, cơ giới hóa với bán cơ giới, chế biến thô (tuyển) với chế biến tinh (sau tuyển) phù hợp với từng đối tượng khoáng sản và mỗi giai đoạn phát triển cụ thể; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm chế biến từ nguyên liệu khoáng ngoài hướng cung cấp cho các hộ tiêu thụ trong nước.
3. Tạo thuận lợi và chủ động phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương để thúc đẩy triển khai đúng tiến độ các dự án thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản quy mô lớn trên địa bàn (như đất hiếm, quặng barit, fluorit...).
4. Tăng cường quản lý Nhà nước, kỷ cương pháp luật trong mọi hoạt động khoáng sản trên địa bàn; tháo gỡ rào cản về cơ chế, chính sách gây khó khăn cho các nhà đầu tư khi thực hiện các dự án, nhất là đầu tư đều tra đánh giá, thăm dò các điểm, biểu hiện khoáng sản quy mô nhỏ, chưa rõ/ít có triển vọng.
5. Nâng cao tính tập trung công nghiệp, hạn chế số lượng chủ đầu tư, tăng thời hạn và số hecta của mỗi diện tích khai thác nhằm khắc phục những bất lợi do quy mô nhỏ, lẻ của hầu hết các mỏ, điểm, biểu hiện khoáng sản trên địa bàn và để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư lâu dài, bài bản và quy mô lớn hơn.
III.
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN.
Điều 2 . Giao cho ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, tổ chức thực hiện Quy hoạch này.
Điều 3
Giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu khóa XII, kỳ họp thứ 13 thông qua./.