NGHỊ QUYẾT Về đánh giá kết quả thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006; Kế hoạch vốn đầu tư nguồn NSNN năm 2007 tỉnh Lai Châu HỘI ĐỔNG NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU KHOÁ XII, KỲ HỌP THỨ 9
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26/11/2003; Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 112/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án xây dựng công trình;
Căn cứ Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 và Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ, V/v ban hành và sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng;
Căn cứ Quyết định số 87/2006/QĐ-TTg ngày 20/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu thời kỳ 2006-2020;
Sau khi xem xét Báo cáo số 114/BC-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh Lai Châu về "Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006, tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư và phân bổ kế hoạch đầu tư từ NSNN năm 2007", báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh và ý kiến của các Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, QUYẾT NGHỊ: Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành Báo cáo số 114/BC-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh Lai Châu về tình hình thực hiện đầu tư năm 2006 và dự kiến phân bổ kế hoạch 2007 và nhấn mạnh một số vấn đề sau: I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỤC HIỆN ĐAU TƯNÃM 2006: Nhìn chung công tác đầu tư XDCB năm 2006 có nhiều chuyển biến tích cực, kế hoạch vốn đầu tư được Tỉnh giao đúng tiến độ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ. Ngay từ đầu năm, Tỉnh đã có những giải pháp kịp thời nhằm tăng cường quản lý đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đầu tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, sớm đưa công trình vào sử dụng, hiệu quả vốn đầu tư được phát huy, góp phần cải thiện một bước kết cấu hạ tầng nông thôn, hạ tầng đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội. Các cấp, các ngành, các chủ đầu tư tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao, quản lý và thực hiện theo đúng các quy định về đầu tư, xây dựng cơ bản hiện hành, Bên cạnh những kết quả đạt được còn một số tổn tại, hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan cần khắc phục, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực hơn nữa của các cấp, các ngành: Các quy định về quản lý đầu tư vẫn còn nhiều bất cập, các văn bản quy định về đầu tư xây dựng cơ bản còn chồng chéo, chưa cụ thể và rõ ràng; Nguồn lực cho đầu tư rất hạn chế, phụ thuộc hoàn toàn ngân sách hỗ trợ từ Trung ương, trong khi nhu cầu đầu tư của tỉnh là rất lớn. Tiến độ thực hiện một số dự án còn chậm; Tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu vẫn còn thấp so với mức bình quân của cả nước; Công tác quyết toán vốn đầu tư vẫn chưa được quan tâm thực hiện, tình trạng thanh toán vốn dồn vào các tháng cuối năm chưa được cải thiện; Công tác giám sát đánh giá đầu tư cũng vẫn chưa được quan tâm và thực hiện theo quy định. Chế độ báo cáo định kỳ của các chủ đầu tư đã được cải thiện so với các năm trước song chưa thường xuyên, chất lượng báo cáo thấp, khó khăn cho công tác điều hành của tỉnh. II. KÊ HOẠCH VỐN ĐAU TƯ NĂM 2007: 1. Về vốn đầu tư: Tổng vốn nguồn NSNN từ nguồn cân đối ngân sách địa phương, bổ sung có mục tiêu từ nguồn ngân sách Trung ương, chương trình mục tiêu quốc gia và dự án lớn, vốn nước ngoài (ODA) là 765.475 triệu đồng.Trong đó: Vốn đầu tư phát triển 691.235 triệu đổng; vốn sự nghiệp là 74.240 triệu đổng. 2. Nguyên tắc phân bổ: (1). Ưu tiên cho các khoản nợ, vay đến hạn trả theo hợp đồng và khế ước vốn vay. (2). Đối với các công trình chờ quyết toán: Để đấy nhanh tiến độ thực hiện quyết toán vốn đầu tư theo đúng quy định, năm 2007 bố trí vốn chờ quyết toán theo nguyên tắc đủ nhu cầu còn lại cho các dự án có quyết toán vốn đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt. Nguồn vốn này không phân bổ chi tiết, giao Kho bạc Nhà nước tỉnh cấp phát đủ nhu cầu vốn cho các dự án theo quyết toánđược cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đến 31/10/2007 các dự án không có quyết toán được phê duyệt, Tỉnh sẽ điều chuyển vốn cho các dự án khác và không bố trí vào các năm tiếp theo. (3). Ưu tiên vốn cho các công trình hoàn thành, các công trình nợ quá hạn (nhóm c quá 2 năm, nhóm B quá 4 năm); tập trung bố trí vốn cho các công trình chuyển tiếp để đảm bảo cân đối thời gian không nợ quá hạn; các công trình trọng điểm. (4). Hạn chế các công trình khởi công mới, chỉ khởi công những công trình thật sự cấp bách để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xóa đói, giảm nghèo. (5). Đối với vốn vay, vốn tạm ứng trước trong năm: Chỉ đầu tư cho dự án Trụ sở họp khối các cơ quan tỉnh, các dự án đền bù GPMB và một số dự án rất trọng điểm khác. Chuyển một số công trình sang nguồn vốn khác (như vốn Trải phiếu CP, ODA, Vốn TĐC... ) để tranh thủ thêm các nguồn vốn đầu tư. Đình hoãn, dãn tiến độ một số công trình xét thấy chưa thật sự cấp bách. (6). Đối với
Chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án lớn được thực hiện theo mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung tại Quyết định số 210/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ quản lý chương trình. Tập trung vốn cho các công trình hoàn thành, tiếp chi cho các dự án chuyển tiếp, chỉ bố trí vốn khởi công mới khi cân đối đủ nguồn vốn trong phạm vi của chương trình.