THÔNG TƯ LIÊN BỘ Về việc giải quyết một số vấn đề liên quan giữa công tác cho vay thương nghiệp của ngân hàng với nhiệm vụ nộp ngân sách nhà nước và đảm bảo vốn kinh doanh của các đơn vị mậu dịch quốc doanh Trước tiên liên Bộ thấy cần thiết nhắc lại một số điểm như sau: Ngân hàng cho các đơn vị Mậu dịch quốc doanh có hạch toán kinh tế độc lập vay luân chuyển và dự trữ hàng hóa theo đúng kế hoạch đã được Bộ hoặc Sở, Ty thương nghiệp duyệt, Ngân hàng cho vay về hàng hóa và vốn Ngân hàng cho vay phải có vật tư hàng hóa đảm bảo. Các đơn vị mậu dịch quốc doanh phải sử dụng tốt vốn Nhà nước cấp và vốn vay của Ngân hàng, phải sử dụng tốt các loại vốn đúng theo định mức đã duyệt. Trên cơ sở sử dụng và vận dụng vốn tốt, các đơn vị thương nghiệp phải hoàn thành kế hoạch kinh doanh và kế hoạch tài vụ, đảm bảo làm đầy đủ nhiệm vụ đối với Ngân sách Nhà nước, đảm bảo hoàn trả lại vốn vay Ngân hàng. Về phía Tài chính và Ngân hàng,
căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ngành mình và
căn cứ vào nguyên tắc tài chính và tín dụng, phải phối hợp chặt chẽ với nhau nhằm tăng cường giám đốc và phục vụ tốt các tổ chức thương nghiệp đầy đủ vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thương nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch kinh doanh và kế hoạch tài vụ, thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế. Về nội dung công tác cho vay thương nghiệp quốc doanh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành biện pháp “Cho vay luân chuyển và dự trữ hàng hóa theo tài khoản cho vay đặc biệt” và sẽ có thông tư giải thích cụ thể sau. Nhưng để kịp thời giải quyết những mắc mứu hiện nay, Liên Bộ quy định biện pháp giải quyết về nguyên tắc một số điểm cụ thể liên quan giữa công tác cho vay thương nghiệp của Ngân hàng với nhiệm vụ nộp Ngân sách Nhà nước và đảm bảo vốn kinh doanh của các đơn vị mậu dịch quốc doanh có hạch toán kinh tế độc lập, nhằm giúp đỡ các địa phương giải quyết một số mắc mứu còn tồn tại hiện nay. 1. Vấn đề trích phí thuế lãi: Phí lưu thông, thuế và lãi bán hàng trên doanh số bán hàng thể hiện chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hóa. Ngân hàng không cho vay các loại này mà, mà theo từng thời gian quy định 03 ngày, 05 ngày hoặc 10 ngày một lần, ngân hàng sẽ cho các đơn vị thương nghiệp trích các khoản này và chuyển sang tài khoản tiền gửi của đơn vị để sử dụng. Mỗi lần nhận được tiền trích thì đơn vị thương nghiệp phải nộp ngay thuế và lãi bán hàng cho ngân sách theo tỉ lệ kế hoạch vì thuế và lãi đã quy định. Số tiền được trích là căn cứ vào số tiền bán hàng đã thực tế nộp vào Ngân hàng trong thời gian đó và căn cứ vào tỉ lệ gộp kế hoạch về phí lưu thông, thuế lãi bán hàng của đơn vị đã được Bộ hoặc Sở, Ty chủ quản của đơn vị duyệt. Tỷ lệ gộp kế hoạch về phí, thuế, lãi này, Bộ hoặc Sở, Ty thương nghiệp thường duyệt bình quân chung cho cả năm hoặc theo từng quý. Để cho số tiền được trích tương đối phù hợp với nhu cầu về phí thuế, lãi của đơn vị Mậu dịch theo từng tháng, các đơn vị Mậu dịch nên căn cứ vào tỉ lệ gộp bình quân của từng quý đã được duyệt mà xây dựng tỷ tỷ lệ gộp kế hoạch về phí thuế, lãi từng tháng cho thích hợp và xin trích theo tỉ lệ kế hoạch từng tháng. Trong quá trình cho trích theo tỉ lệ gộp kế hoạch về phí lưu thông, thuế và lãi bán hàng như vậy có thể chưa sát, nên đơn vị lên xong bảng tổng kết tài sản và bảng phân tích lỗ lãi hàng tháng thì ngân hàng sẽ căn cứ vào tỷ lệ gộp thực tế (gồm tỉ lệ phí lưu thông, tỉ lệ thuế và tỉ lệ lãi bán hàng thực tế) phản ánh trên bảng phân tích lỗ lãi và căn cứ vào số tiền bán hàng đã nộp vào Ngân hàng mà tính toán lại để hoặc cho trích thêm (trường hợp trích chưa đủ vì tỉ lệ thực tế cao hơn tỉ lệ kế hoạch), hoặc rút bớt tiền từ tài khoản tiền gửi của đơn vị về (trường hợp đã cho trích quá vì tỷ lệ thực tế thấp hơn tỉ lệ kế hoạch). Ngân hàng không cho trích theo số tuyệt đối về phần phí lưu thông, thuế doanh thu và lãi bán hàng thể hiện trên bảng phân tích lỗ lãi của đơn vị, vì doanh số bán hàng thể hiện trên các bảng này thường không khớp với số tiền bán hàng thực tế đã nộp vào Ngân hàng. Trong khi cho trích số tiền chênh lệch giữa giá bán và giá mua như trên, có mấy vấn đề cần phải tích cực giải quyết. a) Tất cả số tiền bán hàng của các đơn vị thương nghiệp đều phải nộp hết vào Ngân hàng, nhất thiết không được dùng tiền bán hàng để tọa chi vào việc khác kể cả tọa chi để thu mua và trả các chi phí khác. Đối với các đơn vị thương nghiệp ở quá xa các Chi điếm ngân hàng, thật cần thiết phải tọa chi thì phải có kế hoạch thống nhất với Ngân hàng, hàng tháng được tọa chi một số tiền nhất định là bao nhiêu. Số tiền tọa chi này được coi như đơn vị bán hàng đã nộp tiền vào Ngân hàng và cũng được coi như Ngân hàng đã cho vay. Trong tháng, các cửa hàng đó chỉ được tọa chi trong phạm vi số tiền đã quy định và cuối tháng phải thanh toán với Ngân hàng báo cáo rõ số tiền đó đã sử dụng về thu mua bao nhiêu, về phí bao nhiêu.
Phần sử dụng về thu mua. Ngân hàng sẽ cho vay như thường lệ, còn phần sử dụng về phí, Ngân hàng sẽ khấu trừ vào phí được trích.
Phần cho vay sử dụng về phí này, Ngân hàng không tính lãi. Đối với những đơn vị tọa chi vô nguyên tắc thì phải chịu trách nhiệm về kỷ luật tín dụng, số tiền tọa chi vô nguyên tắc đó sẽ bị xử lý coi như nợ quá hạn.
Phần còn lại, Ngân sách sẽ thực thu 600đ.