THÔNG TƯ Giải thích về chính sách thống nhất quản lý kinh doanh rượu Tại sao cần phải thống nhất quản lý rượu? Các chính sách đối với việc kinh doanh rượu. Chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số. Bộ máy quản lý rượu.
Phần thứ nhất: TẠI SAO CẦN QUẢN LÝ THỐNG NHẤT QUẢN LÝ RƯỢU? A. TÌNH HÌNH RƯỢU Ở NƯỚC TA HỒI PHÁP THUỘC Uống rượu là một tập quán của nhân dân. Sau ngày thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, việc dùng rượu càng được Pháp khuyến khích và phát triển. Rượu có thể chia làm 5 loại: 1) Rượu uống 2) Rượu dùng để bào chế thuốc men và nói chung, dùng trong việc y tế (gồm Đông y và Tây y) 3) Rượu dùng trong công nghệ (xưởng gỗ, xưởng sơn, xưởng thuốc lá…) 4) Rượu chạy máy 5) Rượu đốt (cồn) Trong 5 loại này thì rượu uống là thứ phổ biến nhất và số lượng nhiều hơn cả. I. CHẾ ĐỘ RƯỢU DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC Vì rượu dùng trong nhân dân phổ biến và nhiều như vậy, cho nên thực dân Pháp đã chủ trương nắm chặt lấy nguồn thu về rượu để tăng cường bộ máy thống trị và làm giàu cho tư bản Pháp. Có tên thực dân đã nói trắng rằng: “Muốn thống trị Đông dương thì chỉ cần nắm lấy muối, rượu và thuốc phiện”. Chúng ta thấy rằng trong các nguồn tài chính của Đông dương thì thuế quan là phần chính, chiếm chung 20 phần trăm; ngoài ra có thuốc phiện, rượu, thuốc lá, và muối là các nguồn thu lớn hơn cả, vì chúng đã chia ra các thứ thuế đinh, thuế điền, môn bài, thổ trạch v .v… cho ngân sách 3 kỳ. Riêng thuế rượu là nguồn thuế khá chắc chắn của thực dân; nó chiếm từ 8 đến 11 phần trăm ngân sách cả năm của Đông dương. Vì thế cho nên một ngày
sau khi xâm chiếm Nam bộ, chúng đã ban hành thuế rượu và lần lần chúng tiến đến độc quyền ở khắp Đông dương. - Bắt đầu thuế rượu ngày 21-4-1862. - Độc quyền rượu (độc quyền sản xuất, độc quyền bán, độc quyền vận chuyển và độc quyền xuất nhập khẩu). 1) Chế độ bỏ thầu việc kinh doanh rượu ban hành ngày 05-10-1921. 2) Chế độ nhà Đoan trực tiếp phụ trách độc quyền từ 1902 đến 1913. 3) Chế độ nhà Đoan gián tiếp phụ trách độc quyền từ 1913 đến 1933. 4) Chế độ giả danh là “tự do cạnh tranh” (!): sau 1933 hình thức dù có thay đổi nhưng thực chất vẫn là độc quyền vì rượu Phông-ten trước sau vẫn chiếm 95% tổng số rượu sản xuất toàn Đông dương và được cả bộ máy thống trị của Pháp làm hậu thuẫn. II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ Thời Pháp thuộc, rượu tiêu thụ ở nước ta có ba nguồn: 1) Rượu uống và rượu cồn do các nhà máy của tư bản thực dân nấu. Ngoài nhà máy của Pháp ra còn hơn 10 xưởng của người Việt nam và Hoa kiều, nhưng số rượu sản xuất không đáng kể. 2) Rượu uống do nhân dân nấu lén lút trong nông thôn: Số rượu này rất nhiều: hầu hết các tỉnh đồng bằng và trung du đều có những làng chuyên môn nấu rượu có truyền thống mấy đời, Pháp không làm gì nổi. 3) Rượu nhập cảng: Rượu Tây (vang, bia, rượu mùi …) nhập từ Pháp (và một số ít nước khác) vào Đông dương. Trong các loại rượu kể trên thì rượu Ty do xưởng Phông-ten sản xuất và “rượu ngang” do nông dân ta nấu là 2 loại tiêu thụ nhiều hơn cả. Đại đa số dân ta quen dùng rượu trắng, chỉ ở các thành phố và thị trấn mới tiêu thụ rượu Tây (vang và rượu mùi). Dưới thời Pháp thuộc bình quân một nhân khẩu tiêu thụ trung bình mỗi năm 4 lít rượu ty, chưa kể “rượu ngang” nếu lén lút Pháp không nắm được. Nếu cộng thêm cả “rượu ngang” và các loại rượu khác thì bình quân mỗi nhân khẩu tiêu thụ khoản 7, 8 lít trong một năm. Số rượu nhập cảng cũng khá nhiều như: Của Pháp Của nước khác (tính ra tấn) (tính ra tấn) 1938 46.043 10.700 1939 43.268 11.157 B. TÌNH HÌNH RƯỢU Ở VÙNG TẠM CHIẾM TRONG 8 NĂM KHÁNG CHIẾN Sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi, để tiết kiệm lương thực, ngày 19-11-1945 Chính phủ ta ban hành Sắc lệnh số 57 cấm nấu rượu bằng gạo. Sau ngày kháng chiến bùng nổ trong vùng tạm chiếm Pháp lại khuyến khích việc uống rượu. Tuy nhiên rượu Phông-ten không thể thống trị được nông thôn vùng tạm chiếm như trước nữa, cho nên nông thôn càng nấu rượu nhiều, cạnh tranh với rượu Phông-ten ở trên thị trường. Số rượu sản xuất và tiêu thụ ở nông thôn tuy không có tài liệu đầy đủ, nhưng chắc là cũng khá nhiều vì sau ngày giải phóng số nhà sản xuất rượu ở nông thôn vùng mới giải phóng số nhà sản xuất rượu ở nông thôn vùng mới giải phóng còn lại khoảng 5, 6 nghìn nhà C. TÌNH HÌNH RƯỢU GẦN ĐÂY Trong hơn 9 năm, từ sau ngày ban hành Sắc lệnh 19-11-1945 cho đến tháng giêng năm 1955, vùng tự do cũ không thu thuế rượu (trừ trường hợp rất lẻ tẻ thu thuế vào rượu sắn, rượu bắp…) Số rượu uống so với trước có ít đi phần nào. Trái lại, ở vùng mới giải phóng rượu sản xuất lại nhiều lên. Để hạn chế sản xuất rượu, đồng thời tăng thu cho tài chính Chính phủ đã ban hành điều lệ thuế hàng hóa (trong đó có thuế rượu) từ đầu năm 1955. Nhưng cán bộ ta nói chung đang quen cấm nấu rượu nay chuyển sang thu thuế rượu, nên trong một thời gian dài tư tưởng chưa thông. Ngoài ra một số cán bộ xã bản thân nấu rượu đã vì tư lợi mà không nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, gây tình trạng thất thu nghiêm trọng. Cho nên cả số thu 1955 không bằng số thu 4 tháng đầu năm 1956. Cả năm 1955, tổng số rượu chịu thuế chỉ gần 3 triệu lít, sang năm nay, mặc dầu còn thất thu nhiều, nhưng trung bình mỗi tháng số rượu chịu thuế đã lên tới một triệu lít. Nguyên nhân thất thu thì nhiều, nhưng riêng về mặt khách quan, phải công nhận là tình trạng sản xuất nhỏ, lẻ tẻ và phân tán trong khắp nông thôn là một cản trở cho công tác quản lý thu thuế. Hội nghị thuế rượu do Sở Thuế Trung ương triệu tập tháng 10-1955 ước lượng sau khi địch mới rút lui, số nhà sản xuất rượu rải rác từ vĩ tuyến 17 trở ra có những 15.000, và Sở Thuế đã quản lý để thu thế được hơn 6 nghìn nhà. Cho đến nay, mặc dầu có nhiều nhà đã nghỉ nấu nhưng tính ước lượng cũng còn khoảng 8 nghìn nhà, con số quản lý để thu thuế được hơn 4.000 nhà. Tuy công tác quản lý của ta chưa chặt chẽ, còn bỏ sót nhiều hộ, chưa nắm vững tình hình sản xuất, nhưng ở hầu hết các tỉnh đã quản lý rượu tính trung bình mức sản xuất hàng tháng của một nhà nấu rượu đều từ 200lít trở lên. Ở Nghệ an, Thái bình, Sơn tây và Nam định đã có nhà mỗi tháng sản xuất đến 1.200 lít. Ở Hồng quảng có nhà sản xuất đến 1.500lít. Ngoài ra ở khắp các tỉnh đồng bằng và trung du, rất nhiều nhà sản xuất từ 300 đến 400lít. Nếu tạm tính quân bình mỗi nhà sản xuất mỗi tháng ít nhất 270 lít thì một năm cũng có ít nhất 26 triệu lít rượu (8.000 X 270 X 12), thực tế cả năm 1955, mới đánh thuế có 3 triệu lít, chỉ được hơn 1/8 số sản xuất ước lượng trên, Thuế rượu thất thu như vậy, tất nhiên mọi mặt của chính sách thuế rượu đều không được thực hiện. Ngoài mục đích tăng thu cho tài chính, tích lũy vốn cho Nhà nước, bình ổn tiền tệ và vật giá, chính sách thuế rượu còn nhằm hạn chế tiêu thụ, tiết kiệm thóc gạo và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Trong năm qua, chúng ta thi hành chưa đạt được yêu cầu của chính sách nói trên; rượu sản xuất và tiêu thụ không bớt đi, số người nấu rượu, buôn bán rượu cũng còn đông, tình trạng kinh doanh bừa bãi vô tổ chức này rất không lợi cho nền kinh tế nước ta. Kinh nghiệm năm vừa qua cho thấy là rất khó kiểm soát được hết tất cả các nhà nấu rượu; mặt khác, dầu có kiểm soát cũng vẫn chưa giải quyết được vấn đề chính là hạn chế đúng mức việc nấu rượu. Cho nên vấn đề đặt ra là phải xét lại chính sách cho phép tư nhân tự do kinh doanh rượu. Kinh nghiệm Liên xô và Trung quốc cho chúng ta thấy rằng muốn giải quyết triệt để mọi mặt của vấn đề rượu thì Nhà nước phải thống nhất quản lý kinh doanh rượu. Nội dung chế độ Thống nhất quản lý kinh doanh rượu là: Hết thảy quyền sản xuất, quyền bán, quyền vận chuyển, quyền xuất nhập phải tập trung vào một cơ quan thống nhất quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải có nhà máy sản xuất đủ rượu cho dân dùng. Như thế thì chấm dứt được tình trạng nấu rượu bừa bãi, đảm bảo được sức khỏe của dân, tiết kiệm được lương thực, đảm bảo được thuế và tích lũy vốn cho Nhà nước. Ngoài ra số lãi thường rất lớn mà tư bản tư nhân thu được trong việc kinh doanh rượu sẽ về tay Nhà nước: đó cũng là một biện pháp để cải tạo ngành Công thương kinh doanh rượu, hướng họ chuyển sang làm nghề khác có lợi cho quốc kế dân sinh. Ở Liên xô chế độ độc quyền rượu ban hành sau Cách mạng tháng Mười, trong lúc Nhà nước còn phải chống thù trong giặc ngoài. Nhờ chính sách độc quyền rượu mà mỗi năm tài chính tích lũy được hơn 500 triệu rúp. Ở Trung quốc độc quyền rượu ngay từ hồi kháng Nhật. Số thu về rượu đã đủ cung cấp cho chiến dịch Hoai Hai, một chiến dịch có tính chất quyết định trong chiến tranh giải phóng. Số thuế rượu của Trung quốc năm 1954 tính ra có thể mua được 5 con đường xe lửa từ Bắc kinh đến Quảng châu (mỗi con đường dài 2.388 cây số) số thu 1951 về lãi xí nghiệp rượu có thể mua được 24 máy phát điện hạng 2.500kW. Xét hoàn cảnh nước ta, áp dụng kinh nghiệm của các nước bạn, ngày 25-5-1956 Chính phủ ta đã ban hành chính sách thống nhất quản lý kinh doanh rượu nhằm: 1) Chấm dứt tình trạng nấu rượu bừa bãi, ảnh hưởng đến công việc đồng áng, đến sản xuất ở nông thôn. Nhà nước phụ trách nấu rượu thì sẽ hướng được hàng vạn nông dân trở về làm ruộng, hướng những người nấu rượu tham gia công việc kinh doanh khác có lợi cho quốc kế dân sinh. 2) Hướng dẫn việc dùng rượu, bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Do Nhà nước nắm hoàn toàn số rượu trong nước, sẽ có hạn chế đúng mức việc uống rượu, kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản xuất những thứ rượu không hại đến sức khỏe của người uống. 3) Tiết kiệm lương thực. Rượu nấu theo lối thủ công tốn mỗi lít từ 1kg400 đến 1.800 gạo tẻ: rượu nấu bằng máy chỉ hết có 0kg900 một lít. Như vậy, nếu ước lượng miền Bắc hàng năm tiêu thụ 26 triệu lít (bình quân 2 lít một nhân khẩu) thì nấu rượu bằng máy sẽ tiết kiệm được 23.400 tấn gạo. Nấu rượu bằng máy có thể dùng ngô, khoai, sắn…thay cho thóc gạo. Số gạo hàng năm tiết kiệm được có thể đến gần 50 nghìn tấn. Đồng thời, nhà máy rượu sẽ là chỗ tiêu thụ hoa màu thừa cho nông dân, tiêu thụ cả thóc gạo hẩm mọt. Như vậy nó có tác dụng đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, giải quyết thóc gạo hẩm móc cho Nhà nước. 4) Tăng thu cho tài chính. Thuế hàng hóa, đánh vào rượu sẽ không thất thu như trước nữa, sẽ do các quốc doanh đảm bảo, hàng năm sẽ thu được khoảng 21 nghìn triệu đồng cho công quỹ (26 triệu lít X 800đ). Rêng năm nay số thu cũng đã lên khoảng hơn mười nghìn triệu đồng. Ngoài ra, còn thu được món lợi lớn của các cửa hàng bán rượu của Nhà nước.
Phần thứ hai:
Phần thứ ba:
Phần thứ tư: