THÔNG TƯ LIÊN BỘ Quy định chế độ tạm thời về việc
xét cấp học bổng cho sinh viên, học sinh miền bắc ở các trường lớp đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường lớp sơ cấp chuyên nghiệp, nghiệp vụ Chấp hành thông tư số 12-TTg ngày 31-01-1964 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi chế độ học bổng cấp đại học và chuyện nghiệp các cấp, và nghị quyết của thường vụ Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 16-07-1964.
Sau khi trao đổi ý kiến với một số Bộ có trường đại học; trung học chuyên nghiệp và một số địa phương, liên Bộ Giáo dục - Tài chính quy định lại chế độ tạm thời về xét cấp học bổng cho sinh viên, học sinh các trường lớp đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường lớp sơ cấp chuyên nghiệp, nghiệp vụ, như sau: I. ĐỐI TƯỢNG XÉT CẤP HỌC BỔNG.
Căn cứ vào tinh thần nghị quyết của thường vụ Hội đồng Chính phủ, kể từ năm học 1964-1965 trở đi, Nhà nước chỉ xét cấp học bổng cho một số đối tượng nhất định, nhằm giúp đỡ học sinh giỏi; có tư cách đạo đức tốt và gia đình quá nghèo; chiếu cố những gia đình có công với cách mạng và dân tộc ít người.Cụ thể là: 1. Học sinh giỏi toàn diện, đạo đức tốt, nhưng gia đình quá nghèo. Tiêu chuẩn để xếp vào loại đối tượng này như sau: - Về học tập: phải có từ 2/3 trở lên các môn thi và kiểm tra là điểm giỏi, còn là điểm khá. - Về tư cách đạo đức: có đạo đức tốt, gương mẫu trong học tập, trong lao động và trong mọi công tác được nhà trường và đoàn thể giao cho, đoàn kết tốt, hạnh kiểm loại A. - Về điều kiện kinh tế gia đình: căn cứ vào điều kiện kinh tế quy định ở mục II, tùy trường hợp cụ thể được xét cấp cao hơn tiêu chuẩn chung một mức hoặc cấp học bổng toàn phần. Trường hợp chỉ đạt từ 50% trở lên các môn thi và kiểm tra là điểm giỏi, còn lại là điểm khá, không có điểm trung bình, thì cũng được chiếu cố và xếp vào loại đối tượng này và cũng được xét cấp cao hơn tiêu chuẩn chung một mức. 2. Học sinh giỏi, đạo đức tốt đang theo học, nhưng gia đình gặp tai nạn bất ngờ, có khó khăn đặc biệt, nên không đủ điều kiện tiếp tục theo học . Tiêu chuẩn để xếp vào loại đối tượng này như sau: - Về học tập: phải được xếp vào loại trên trung bình. - Về tư cách đạo đức: như các đối tượng trên. - Về kinh tế gia đình: thu nhập gia đình bị giảm sút nhiều do tai nạn bất ngờ (thiên tai; hỏa hoạn, người lao động chính trong gia đình bị chết hoặc mất sức lao động…) làm cho mức thu nhập bình quân trong gia đình bị giảm sút từ 30% trở lên trong một thời gian, so với mức thu nhập bình quân chung ở trong tỉnh. Loại đối tượng này không có học sinh mới tuyển vào học, chỉ xét cho những học sinh đang theo học, ít nhất đã học được một học kỳ trở lên, và chỉ được xét cấp học bổng trong năm học ấy mà thôi. Tất cả các loại học sinh thuộc đối tượng này đều được xét cấp học bổng căn cứ vào tiêu chuẩn chung về kinh tế quy định ở mục II. 3. Học sinh là con gia đình có công với cách mạng. Đối tượng này gồm có: - Con liệt sĩ: căn cứ theo bản định nghĩa đã quy định ở nghị định số 980-TTg ngày 27-07-1956 của Thủ tướng Chí phủ (công báo số 29 năm 1956). - Con tử sĩ: con quân nhân từ trần hay mất tích trong khi tại ngũ, đã quy định ở thông tư số 38-TT-LB ngày 01-08-1962 của liên Bộ Nội vụ - Tài chính (công báo số 30 năm 1962). - Con công nhân, cán bộ bị tai nạn từ trần trong khi làm nhiệm vụ. - Con thương binh: theo quy định ở nghị định số 18-NĐ ngày 17-11-1954 của liên Bộ Thương binh- Quốc phòng- Tài chính. - Con cán bộ hoạt động lâu năm: cán bộ hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng tám năm 1945, là những người thuộc diện thi hành thông tư số 03-NV ngày 01-02-1963 của Bộ Nội vụ và thông tư số 32-TT-TC ngày 14-10-1960 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng Lao động Việt-nam. - Con quân nhân, cán bộ dân, chính, đảng đã được tặng thưởng huân chương, huy chương Kháng chiến hoặc Chiến thắng và con các gia đình đã được tặng bằng "Có công với Nước" hoặc huân chương Kháng chiến. Các đối tượng nói trên đều được ở trong diện xét cấp học bổng nhưng phải có đủ các điều kiện dưới đây: Về học tập: phải được xếp vào loại trung bình trở lên; Về tư cách đạo đức: như các loại đối tượng trên; Về điều kiện kinh tế gia đình: căn cứ vào tiêu chuẩn chung quy định ở mục II , mà xét cấp cao lên một mức; nhưng nếu thuộc loại học giỏi toàn diện thì được chiếu cố cấp cao hơn một mức nữa. 4. Học sinh người dân tộc thiểu số: - Về học tập: phải đạt từ loại trung bình trở lên. - Về tư cách đạo đức: như các loại đối tượng trên. - Về điều kiện kinh tế: học sinh dân tộc thiểu số về học ở các trường miền xuôi đều được xét cấp học bổng toàn phần không cần phân biệt dân tộc ít người hay dân tộc đông người và không cần căn cứ vào điều kiện kinh tế của gia đình. Nếu sinh viên, học sinh dân tộc nào thuộc loại giỏi toàn diện đạt từ 2/3 trở lên các môn thi kiểm tra là điểm giỏi, còn là điểm khá, không có điểm trung bình, đạo đức tốt, có thể được xét cấp loại học bổng đặc biệt. Đối với sinh viên, học sinh dân tộc học các trường ở miền núi, Ủy ban hành chính khu tự trị sẽ quy định các tiêu chuẩn để thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương. II. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ GIA ĐÌNH Ngoài các điều kiện về học lực và tư cách đạo đức đã nói ở trên, sau đây là tiêu chuẩn cụ thể về sinh hoạt kinh tế để làm căn cứ hướng dẫn việc xét cấp học bổng cho các loại đối tượng: 1 . Đối với gia đình sản xuất nông nghiệp, thu nhập chủ yếu bằng thóc và hoa mầu, cứ bình quân thu nhập mỗi nhân khẩu hàng năm (chỉ tính phần thu nhập ở khu vực kinh tế tập thể, còn về kinh tế phụ chỉ để tham khảo khi xét cấp): - Nếu thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình một năm trên 250 cân thóc trở xuống thì không cấp. - Nếu thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình một năm từ 100 cân thóc trở xuống thì xét cấp học bổng toàn phần. 2 . Đối với gia đình thu nhập chủ yếu bằng tiền, cứ bình quân thu nhập hàng tháng cho mỗi nhân khẩu trong gia đình: a) Ở nơi sinh hoạt bình thường: - Từ 14 đồng một tháng thì không cấp. - Từ 5 đồng trở xuống một tháng thì xét cấp học bổng toàn phần. b) Ở nơi có phụ cấp khu vực từ 10% trở lên: - Từ 16 đồng một tháng thì không cấp. - Từ 7 đồng trở xuống một tháng thì xét cấp học bổng toàn phần. Đối với gia đình công nhân cán bộ Nhà nước, khi tính bình quân thu nhập, được giữ lại cho bản thân người công nhân cán bộ 40% lương và phụ cấp (không kể phụ cấp con).
Phần còn lại và phụ cấp con, cộng với các khoản thu nhập khác của gia đình, rồi đem chia cho những người còn lại mà người công nhân, cán bộ có trách nhiệm phải nuôi dưỡng. Để đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu cần thiết cho những người lương ít, nếu 40% lương và phụ cấp không đủ mức 25đ, vẫn được tính giữ lại đủ 25đ.