THÔNG TƯ Giải thích và hướng dẫn thi hành thuế lợi tức doanh nghiệp
Căn cứ điều 48 của Điều lệ thuế công thương nghiệp ban hành theo quyết định số 200-NQ/TVQH ngày 18-01-1966 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và chỉ thị số 35-TTg/TN ngày 21-02-1966 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn việc thi hành thuế lợi tức doanh nghiệm như sau: Thuế lợi tức doanh nghiệp thu vào lãi kinh doanh của tất cả các cơ sở công thương nghiệp kinh doanh tập thể hay riêng lẻ. Bằng cách điều hòa thu nhập giữa các ngành và điều tiết các mức lãi không hợp lý, thuế lợi tức doanh nghiệp khuyến khích, hướng dẫn các ngành nghề sản xuất, kinh doanh đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, khuyến khích phát triển sản xuất, thúc đẩy thực hiện quy hoạch nghành nghề, phân bổ lại lực lượng sản xuất, tăng cường và củng cố quan hệ sản xuất mới và thúc đẩy cải tạo xã hội chủ nghĩa. A. AI PHẢI NỘP THUẾ LỢI TỨC DOANH NGHIỆP Trừ các trường hợp nói ở đoạn dưới, tất cả các hợp tác xã, tổ chức hợp tác và hộ riêng lẻ kinh doanh công thương nghiệp có lãi đều phải nộp thuế lợi tức doanh nghiệp, kể cả các tư nhân cho thuê nhà, đất ở thành phố và thị xã. Các trường hợp sau đây không phải nộp thuế lợi tức doanh nghiệp: - Các người buôn chuyến đã nộp thuế buôn chuyến (vì thuế buôn chuyến là một hình thức thu gộp hai thứ thuế (doanh nghiệp và lợi tức doanh nghiệp), làm một; - Các người làm nghề lặt vặt như mài dao kéo, giữ xe đạp… đan len, đan sợi, vì thu nhập ít nên đã được miễn thuế doanh nghiệp; - Các cơ sở làm các nghề được coi là không thuộc hoạt động công thương nghiệp (người viết sách báo, ông lang chữa bệnh bằng châm cứu, bắt mạch kê đơn, họa sĩ bán tác phẩm do mình sáng tác, các đoàn tuồng, chèo, cải lương, các xưởng của trường học sản xuất không nhằm mục đích kinh doanh…) cũng không phải nộp thuế lợi tức doanh nghiệp. Nhưng nếu họ có những hoạt động kinh doanh phải chịu thuế doanh nghiệp thì cũng phải nộp thuế lợi tức doanh nghiệp (xem thông tư số 07-TC/TQD ngày 05-3-1966 của Bộ Tài chính về thuế doanh nghiệp); - Các người làm nghề chuyên chở hàng hóa ở miền núi bằng xe lết, bằng ngựa thồ, bằng xe cút kít cũng được miễn thuế lợi tức doanh nghiệp; - Các cơ sở thuộc trường hợp phải nộp thuế lợi tức doanh nghiệp, nhưng thu nhập thấp hay là gặp khó khăn do thiên tai địch họa, tai nạn bất ngờ, có thể được Ủy ban hành chính từ cấp huyện trở lên
xét giảm hoặc miễn thuế lợi tức doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định, theo đề nghị của cơ quan thu. Thời hạn này do Ủy ban hành chính quyết định, tùy theo cơ sở có khó khăn hay bị thiệt hại nhiều hay ít; - Ngoài ra, để chiếu cố các tổ chức hợp tác và người riêng lẻ làm nghề vận tải hàng hóa bằng xe thồ, xe ba gác, xe bò người kéo, xe xích lô chuyên dùng để chở hàng hóa, các cơ sở này cũng được tạm thời miễn thuế lợi tức doanh nghiệp, tuy thuộc diện phải nộp thuế doanh nghiệp theo Điều lệ thuế công thương nghiệp mới. Ở những vùng điều kiện vận tải có khó khăn hoặc phương tiện vận tải thiếu thốn, ở những vùng có nhu cầu đặc biệt về vận tải, các hoạt động vận tải bằng một số loại phương tiện vận tải nhất định như xe ngựa, xe trâu, thuyền,… nếu được Ủy ban hành chính tỉnh xét và quyết định tạm thời chưa thu thuế doanh nghiệp hay cho miễn thuế doanh nghiệp trong một thời gian nhất định, thì cũng được tạm thời miễn thuế lợi tức doanh nghiệp trong thời gian đó. B. BIỂU THUẾ I. Để phân biệt đối đãi các ngành kinh doanh khác nhau, điều lệ thuế mới có quy định ba biểu thuế khác nhau: - Một biểu thuế cho các ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, vận tải, kiến trúc và ngành kinh doanh nông nghiệp nhưng không thuộc diện nộp thuế nông nghiệp, - Một biểu thuế cho các ngành phục vụ và ăn uống, - Một biểu thuế cho ngành thương nghiệp. Nhằm động viên đóng góp công bằng hợp lý, sát với tình hình thu nhập (hiện nay còn khác nhau) của các cơ sở kinh doanh, đồng thời khuyến khích tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, các biểu thuế lợi tức mới đều là biểu thuế lũy tiến từng phần. 1. Đối với các ngành tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, vận tải, kiến trúc, ngành kinh doanh nông nghiệp không thuộc diện chịu thuế nông nghiệp, biểu thuế quy định trong điều lệ là một biểu thuế lũy tiến từng phần, từ 8% đến 22%, áp dụng cho các hợp tác xã. Đối với các hộ riêng lẻ kinh doanh các ngành nghề nói trên, điều lệ quy định là phải nộp thuế lợi tức theo biểu thuế áp dụng cho các hợp tác xã cộng thêm 25%; như vậy là để khuyến khích, thúc đẩy các hộ cá thể đi vào con đường làm ăn tập thể, đồng thời để tỏ rõ thái độ của Nhà nước ưu đãi hợp tác xã. Tuy nhiên, đối với các hộ riêng lẻ kinh doanh các nghề mà Ủy ban hành chính tỉnh, hoặc thành phố đã quyết định không cần thiết phải tổ chức vào hợp tác xã vì tính chất của ngành, nghề đó, hoặc đối với các hộ riêng lẻ kinh doanh, sản xuất ở nơi xa xôi hẻo lánh, công thương nghiệp không tập trung, không có điều kiện tổ chức họ vào hợp tác xã, Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố (hoặc cấp chính quyền được ủy nhiệm) có thể quyết định chỉ phải cộng thêm 10% thôi. 2. Đối với ngành phục vụ, ngành ăn uống, biểu thuế quy định trong điều lệ là để áp dụng cho các hộ kinh doanh riêng lẻ, và là một biểu thuế lũy tiến từng phần, từ 10% đến 28%. Để quản lý các hộ kinh doanh hai ngành này và giúp đỡ họ tiếp thu cải tạo, điều lệ quy định là các tổ hợp tác kinh doanh ngành phục vụ và ngành ăn uống nộp thuế theo biểu thuế áp dụng đối với hộ riêng lẻ nhưng được trừ đi 5%. 3. Đối với ngành thương nghiệp, biểu thuế quy định trong điều lệ là để áp dụng cho các hộ kinh doanh riêng lẻ, và là một biểu thuế lũy tiến từng phần, từ 12% đến 32%. Thuế lợi tức đối với các tổ hợp tác kinh doanh thương nghiệp cũng tính theo biểu thuế trên đây nhưng được trừ đi 5% như đã giải thích ở điểm 2. II. Hiện nay, có một số cơ sở kinh doanh công thương nghiệp thu được những mức lãi quá cao; để thúc đẩy các cơ sở đó kinh doanh đúng đường lối của Đảng và Nhà nước, chính sách thuế quy định việc điều tiết các mức lãi quá cao đó như sau: ngoài việc nộp thuế theo các biểu thuế đã định, các cơ sở có lợi tức vượt mức còn phải nộp thêm một tỷ lệ phần trăm tính trên phần lợi tức vượt mức. Tỷ lệ này do Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố (hoặc cấp chính quyền được ủy nhiệm) quyết định cho từng trường hợp và có phân biệt đối đãi giữa các ngành. Ngành Lợi tức hàng năm vượt mức Phải nộp thêm Sản xuất Phục vụ ăn uống Thương nghiệp 1.600đ 1.500đ 1.400đ phần lợi tức vượt mức từ 5% đến 15% từ 8% đến 18% từ 10% đến 20% Chính sách thuế lợi tức còn quy định những trường hợp miễn giảm thuế nhằm khuyến khích các hợp tác xã tăng cường trang bị kỹ thuật, khuyến khích tận dụng phế liệu, phế phẩm và sử dụng nguyên vật liệu thay thế cũng như khuyến khích các hợp tác xã di chuyển cơ sở theo quy hoạch của Nhà nước, khuyến khích các hợp tác xã thu nhận thương binh tham gia sản xuất. Các trường hợp miễn giảm này sẽ giải thích ở phần dưới. C. TÍNH THUẾ I. ĐỐI VỚI NGÀNH TIỂU CÔNG NGHIỆP, THỦ CÔNG NGHIỆP, VẬN TẢI, KIẾN TRÚC VÀ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP KHÔNG THUỘC DIỆN NỘP THUẾ DOANH NGHIỆP 1. Hợp tác xã: a) Lợi tức chịu thuế là doanh thu trừ (-) các khoản hao phí vật chất, phí tổn hợp lệ, và suất miễn thu, cộng (+) lợi tức phụ. Doanh thu: xem giải thích trong thông tư số 07-TC/TQD ngày 05-3-1996 của Bộ Tài chính. Các khoản được trừ gồm: hao phí vật chất, phí tổn hợp lệ và suất miễn thu. Hao phí vật chất. Khi tính trừ hao phí vật chất, cần chú ý hai khoản: hao phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và khấu hao tài sản cố định. Để phát huy tác dụng giám đốc của tài chính đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, thông qua việc thu thuế lợi tức doanh nghiệp, việc tính trừ hao phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phải theo nguyên tắc là: mức trừ nhiều nhất không quá định mức do xí nghiệp cơ quan Nhà nước gia công, đặt hàng đã xác định. Nếu hao phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu của hợp tác xã thực hiện thấp hơn định mức của xí nghiệp, cơ quan gia công đặt hàng, thì cơ quan thu trừ theo mức thực tế của hợp tác xã, đồng thời phản ảnh với xí nghiệp cơ quan đặt hàng để nghiên cứu, điều chỉnh lại định mức cho sát với thực tế, Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố cần xác định trách nhiệm cho các xí nghiệp, cơ quan gia công đặt hàng phải tính toán giá cả và các định mức hao phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho sát, và mỗi khi ký một hợp đồng gia công đặt hàng, phải gửi một bản cho cơ quan thu để theo dõi và phối hợp quản lý, giúp đỡ hợp tác xã thực hiện tốt hợp đồng. Cơ quan thu phải giúp đỡ hợp tác xã quản lý tốt và sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, bảo đảm phẩm chất, quy cách hàng hóa. Cơ quan thu phải kiểm tra việc kê khai hao phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, ngăn ngừa lãng phí, tham ô vật tư của Nhà nước, đồng thời bảo đảm thu đủ, thu đúng chính sách. Tính trừ khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) phải theo công thức khấu hao công nghiệp, và tính riêng cho từng tài sản cố định: Mức khấu hao tổng hợp cả năm = Nguyên giá tài sản cố định - Giá trị tàn dư + Phí tổn thanh toán + Chi phí sửa chữa lớn Thời gian sử dụng Trong kỳ thu thuế lợi tức doanh nghiệp đầu tiên theo chính sách thuế mới, cơ quan thu tạm thời dựa vào những số liệu tính trừ khấu hao tài sản cố định hiện đang áp dụng mà tính thuế nhưng phải điều chỉnh lại những trường hợp trừ khấu hao không hợp lý quá rõ ràng xét có thể điều chỉnh ngay được, còn những trường hợp trừ khấu hao không hợp lý khác thì ghi lại để sau này bàn với cơ quan quản lý thủ công nghiệp biện pháp điều chỉnh theo nguyên tắc khấu hao quy định trong chế độ tài vụ hợp tác xã thủ công nghiệp (sắp ban hành). Đối với ngành vận tải thuyền, cũng tạm thời áp dụng phương pháp khấu hao hiện hành của ngành vận tải. Bộ Tài chính sẽ liên hệ với Bộ Giao thông vận tải để nghiên cứu vấn đề này và sẽ hướng dẫn sau. Cần chú ý là chỉ những tài sản cố định đang dùng vào sản xuất mới được khấu hao. Những tài sản cố định chưa dùng hay không dùng vào sản xuất thì không được tính khấu hao. Những tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị nhưng chưa hỏng, vẫn tiếp tục được dùng vào sản xuất, thì không tính khấu hao cơ bản nữa nhưng phải tiếp tục tính khấu hao sửa chữa lớn để bảo đảm cho hợp tác xã có điều kiện sửa chữa lớn tài sản cố định đúng kỳ hạn. Các khoản phí tổn. Khi tính trừ các khoản phí tổn như chi phí quản lý, chi phí tiêu thụ trong đó có các khoản thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa đã nộp, thì chỉ công nhận những khoản chi đã được quy định trong chế độ tài vụ hợp tác xã và phải kiểm tra chứng từ xem số tiền chi có tương xứng với nội dung các khoản chi hay không, để kịp thời phát hiện những trường hợp chi tiêu lãng phí, sai chế độ. Các khoản sau đây không được tính vào phí tổn hay thiệt hại để trừ vào lợi tức chịu thuế: - Tiền thuế lợi tức doanh nghiệp; - Tiền nộp các khoản phạt do cơ quan thu hay cơ quan khác phạt; - Tiền công trả cho số nhân công thuê quá tỷ lệ được phép thuê (trừ trường hợp nói ở phần dưới); - Chi phí về xây dựng các công trình phục vụ sản xuất (khoản này đã tính trừ ở mục khấu hao tài sản cố định). Phí tổn về nguyên vật liệu dùng vào việc chế tạo tài sản cố định để tự trang bị; - Các khoản thiệt hại về thiên tai, địch họa (thuộc phạm vi xét miễn giảm thuế lợi tức); - Các khoản chi khác không được cơ quan thu công nhận vì không hợp lệ. Suất miễn thu. Hiện nay, trong các tổ chức kinh tế tập thể, việc chia tiền công căn cứ vào thu nhập, tháng nhiều tháng ít; mặt khác, năng suất lao động trong hợp tác xã còn thấp, nhiều người mới vào nghề, trình độ nghề nghiệp và năng suất lao động khác nhau; cho nên không thể có một chế độ tiền công nhất định. Bởi vậy, khi tính lợi tức không thể cho trừ tiền lương (như đối với xí nghiệp quốc doanh), phải ấn định những mức miễn thu cố định và cho trừ vào thu nhập của hợp tác xã để tính ra lợi tức chịu thuế. Những mức miễn thu này quy định khác nhau giữa các ngành nghề khác nhau và giữa các vùng khác nhau. - Ngành, nghề sản xuất đòi hỏi lao động có kỹ thuật hay lao động giản đơn, lao động nặng hay lao động nhẹ; - Cơ sở sản xuất kinh doanh đặt ở Hà Nội, Hải Phòng, hay ở thành phố khác, các thị xã và miền núi hay ở các khu khác, giá sinh hoạt khác nhau. Riêng đối với một số ngành nghề cần đặc biệt chiếu cố và cần khuyến khích chuyển về nông thôn, thì điều lệ quy định một mức miễn thu chung cho cả ba khu vực (cơ khí, điện, hóa chất, thủy tinh nấu, cát, vận tải thủy: 38đ; đóng thuyền, phà: 34đ). Ngoài ra, ở miền núi, cần ra sức khuyến khích phát triển thủ công nghiệp, cho nên đối với thị xã hay nông thôn miền núi đều cùng một mức miễn thu như nhau. Để khuyến khích các hợp tác xã di chuyển cơ sở theo sự hướng dẫn của chính quyền địa phương, Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố (hay cấp chính quyền được ủy nhiệm) có thể quyết định cho hợp tác xã được hưởng mức miễn thu ở nơi cũ trong một thời hạn từ một đến hai năm, nếu mức miễn thu ở nơi cũ cao hơn ở nơi mới đến. Các trường hợp tự động di chuyển cơ sở thì không được hưởng điều khoản chiếu cố này. Cách tính suất miễn thu cho các loại lao động trong hợp tác xã như sau: - Đối với hợp tác xã làm nhiều nghề thì về công trực tiếp, xã viên thường xuyên làm nghề nào thì được trừ một suất miễn thu theo mức quy định cho nghề ấy. Về công gián tiếp (như xã viên làm kế hoạch, kế toán, thống kê…) thì tính trừ cho mỗi người một suất miễn thu theo mức quy định cho nghề sản xuất chính của hợp tác xã. - Đối với người học việc trong hợp tác xã, nếu do cơ quan chủ quản đưa xuống để đào tạo thợ cho ngành và hợp tác xã phải đài thọ phí sinh hoạt, thì tính trừ nửa(1/2) suất miễn thu cho mỗi người, theo mức quy định cho nghề học. Đối với những người học việc khác, nếu được đại hội xã viên công nhận và cơ quan thu thừa nhận, thì mới được trừ nửa (1/2) suất miễn thu cho mỗi người, theo mức quy định cho nghề học. Các hợp tác xã có thuê nhân công được tính trừ tiền công trả cho nhân công, nhưng chỉ được trừ trong phạm vi số nhân công mà điều lệ tổ chức hợp tác xã cho phép thuê mướn, tức là không quá 10% số xã viên trong danh sách của hợp tác xã và mức tiền công được trừ về số nhân công thuê mướn đó không được cao hơn mức tiền công của xã viên cùng trình độ kỹ thuật. Riêng đối với một số cơ sở sản xuất phục vụ quốc phòng hoặc xuất khẩu (cơ khí, may…) nếu phải thuê một số nhân công quá tỷ lệ 10% tổng số xã viên, do yêu cầu hoàn thành kế hoạch đột xuất trong một thời gian ngắn, và nếu được cơ quan chủ quản xác nhận, thì được trừ tiền công trong thời gian đó như đã nói ở trên cho toàn bộ số nhân công thuê mướn. Công thức tính số suất miễn thu như sau: Tổng số ngày công đã chấm cho xã viên = số suất miễn thu được trừ 25 ngày Tính mỗi công lao động 25 ngày một tháng là để bảo đảm quản lý chặt chẽ lao động và khuyến khích sử dụng lao động hợp lý trong hợp tác xã sản xuất. Đối với hợp tác xã thủ công nghiệp ở nông thôn, việc tính trừ miễn thu phức tạp hơn, vì thời gian sản xuất nghề thủ công không liên tục, mà xen kẻ với sản xuất nông nghiệp, cho nên có thể căn cứ vào mức khoán sản phẩm so sánh với giá trị ngày công lao động của hợp tác xã thủ công cùng nghề ở nơi khác, mà tính ra số ngày công, và từ đó tính ra số suất miễn thu được trừ. Đính kèm theo thông tư này bằng hướng dẫn áp dụng các mức miễn thu. Lợi tức phụ Lợi tức phụ gồm các khoản: - Tiền thu về bán phế liệu, phế phẩm, - Tiền chênh lệch thừa về bán tài sản cố định sau khi đã trừ hết khấu hao, về bán vật rẻ tiền mau hỏng sau khi đã phân bổ hết trị giá vào phí tổn sản xuất, - Tiền lãi thu được về tiền gửi ngân hàng, - Tiền chênh lệch về nhượng lại nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho các cơ sở sản xuất bạn, - Tiền cho thuê nhà, xưởng (nếu có), - Các lợi tức về kinh doanh nghiệp vụ khác, như chở thuê một chuyến xe, làm công việc sửa chữa… b)Tính thuế lợi tức hàng quý hay sáu tháng phải căn cứ vào lợi tức chịu thuế bình quân của một xã viên, quy ra cả năm, và áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần thích hợp ghi trong biểu thuế. Tính thuế vào phần lợi tức vượt mức. Những hợp tác xã có lợi tức vượt mức do cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất làm cho năng suất lao động tăng, hoặc do cải tiến quản lý, nên tiết kiệm được nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, chống được lãng phí, tham ô, hoặc do tăng cường độ lao động, thì vẫn được áp dụng thuế suất bình thường (22%) để tính thuế lợi tức doanh nghiệp về số lợi tức vượt mức. Những hợp tác xã do lề thói kinh doanh không chính đáng mà có lợi tức vượt mức, ví dụ: mua được nguyên liệu cũ với giá rẻ nhưng tính giá cao với Nhà nước; biết giá cả hoặc công thức gia công của xí nghiệp, cơ quan quy định không sát, nhưng vì thấy có lợi cho mình nên không phát hiện để sửa đổi, hoặc bán hàng ra thị trường với giá cao v.v… thì phần lợi tức vượt mức phải chịu thuế suất 22% cộng (+) thêm một tỷ lệ từ 6% đến 15%, do Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố quyết định đối với từng cơ sở sản xuất, theo đề nghị của cơ quan thu. Ủy ban hành chính tỉnh hay thành phố có thể ủy nhiệm cho Ủy ban hành chính huyện, thị xã hay khu phố xét và quyết định các tỷ lệ thu thêm này. Ấn định tỷ lệ thu thêm phải căn cứ vào ba yếu tố: - Số lợi tức vượt mức nhiều hay ít; -Tỷ lệ lãi cao hay thấp so với các hợp tác xã cùng nghề; - Thái độ kinh doanh. c) Các trường hợp trích giảm, miễn thuế lợi tức doanh nghiệp. - Giảm thuế lợi tức cho hợp tác xã có mua sắm máy móc, công cụ và xây dựng nhà xưởng sản xuất. Nhằm khuyến khích tăng cường trang bị kỹ thuật cho các ngành nghề cần tiến lên cơ giới hóa và nửa cơ giới hóa, điều lệ thuế quy định các hợp tác xã có thực tế mua sắm máy móc công cụ, xây dựng nhà xưởng sản xuất, được trích giảng một phần thuế lợi tức để bỏ vào quỹ tích lũy. Việc giảm thuế này có phân biệt các ngành nghề và trình độ tổ chức của hợp tác xã. Khi xét trích giảm, cần phân biệt hai trường hợp: - Trường hợp hợp tác xã thực hiện kế hoạch trang bị của năm hiện hành. - Trường hợp kế hoạch trang bị của năm trước chưa thực hiện được, hợp tác xã phải dồn qua năm hiện hành, và nếu quỹ tích lũy hiện có không đủ chi. Tỷ lệ trích giảm thuế cao nhất trong mỗi trường hợp ấn định như sau: LOẠI HỢP TÁC XÃ Trường hợp thực hiện kế hoạch trang bị của năm hiện hành Trường hợp thực hiện kế hoạch trang bị của hai năm dồn làm một và quỹ tích lũy của hợp tác xã không đủ chi - Hợp tác xã cấp cao thuộc các ngành nghề: cơ khí, điện, hóa chất; thủy tinh nấu cát; vận tải thủy và đóng thuyền phà - Hợp tác xã cấp cao thuộc các nghề khác - Hợp tác xã cấp vừa thuộc tất cả các ngành nghề 30% 25% 15% 50% 40% 20% Chỉ các hợp tác xã được chính thức công nhận mới được hưởng các điều khoản trích giảm nói trên. Các cơ quan thu nên đôn đốc các cơ quan quản lý thủ công hướng dẫn các hợp tác xã đưa việc mua sắm thiết bị, máy móc và xây dựng nhà, xưởng sản xuất vào kế hoạch, nhưng cơ sở để tính số thuế được trích giảm không phải là số dự thi theo kế hoạch mà là số thực chi trong mỗi kỳ quyết toán; do đó nói chung, việc trích giảm thuế nói ở đây chỉ nên thực hiện vào những kỳ thanh toán thuế lợi tức. Việc xếp hợp tác xã vào cấp cao hoặc cấp vừa để định tỷ lệ trích giảm do Ủy ban hành chính tỉnh hoặc thành phố quyết định, theo đề nghị của cơ quan quản lý công nghiệp và cơ quan thu. - Miễn thuế lợi tức cho những trường hợp sản xuất bằng phế liệu, phế phẩm và nguyên liệu thay thế. Nhằm khuyến khích hợp tác xã tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu và phát huy cao độ tinh thần tự lực cánh sinh, không ỷ lại vào nguồn nguyên liệu, vật liệu của Nhà nước, các hợp tác xã vận dụng phế liệu, phế phẩm để làm thêm hàng hóa, các hợp tác xã sử dụng nguyên liệu, vật liệu địa phương được phép khai thác để thay thế nguyên liệu, vật liệu, do nhập khẩu hoặc nguyên liệu, vật liệu, do Nhà nước cung cấp, để làm ra sản phẩm, đều được miễn thuế về phần lợi ích làm ra do sử dụng phế liệu, phế phẩm hay nguyên liệu, vật liệu thay thế. Thời hạn miễn thuế là một năm kể từ ngày có hàng hóa sản xuất bằng phế liệu, phế phẩm, nguyên liệu, vật liệu thay thế bán ra. Vấn đề sử dụng phế liệu, phế phẩm, nguyên liệu, vật liệu thay thế là một vấn đề khá phức tạp. Cần phải căn cứ vào tình hình thực tế mới có thể quy định cụ thể được. Đề nghị các địa phương phản ánh về Bộ những trường hợp hợp tác xã sản xuất bằng phế liệu, phế phẩm, nguyên liệu, vật liệu thay thế, để Bộ tập hợp tình hình, nghiên cứu và ban hành những quy định cần thiết, làm căn cứ cho việc miễn thuế nói trên. - Giảm, miễn thuế lợi tức cho các hợp tác xã di chuyển cơ sở. Nhằm góp phần khuyến khích việc phân bổ lại lực lượng sản xuất, xây dựng các vùng kinh tế mới, điều lệ quy định các hợp tác xã di chuyển cơ sở theo sự hướng dẫn của chính quyền địa phương, nếu đến địa điểm mới mà sản xuất gặp khó khăn, thu nhập bị sút kém thì có thể được Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố (hoặc cấp chính quyền được ủy nhiệm), xét giảm thuế lợi tức trong thời hạn từ ba tháng đến một năm theo đề nghị của cơ quan thu. Sau đó, nếu còn khó khăn thì có thể được xét giảm thuế thêm một thời hạn từ ba tháng đến một năm nữa. Tỷ lệ giảm thuế lợi tức như sau: - Di chuyển đến miền núi và đến các vùng có nhiều khó khăn: giảm từ 25% đến 50% thuế lợi tức; - Di chuyển đến các địa phương khác: giảm từ 10% đến 20%. Đối với những trường hợp có khó khăn đặc biệt, Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố (hay cấp chính quyền được ủy nhiệm) có thể xét miễn hẳn thuế lợi tức trong một thời hạn như nói ở trên. Việc miễn giảm này áp dụng cho cả hai trường hợp: a) Di chuyển cơ sở theo quy hoạch điều chuyển kinh tế của chính quyền địa phương; b) Di chuyển do yêu cầu sơ tán phòng không, theo kế hoạch của chính quyền địa phương. Trong cả hai trường hợp, nếu sản xuất gặp khó khăn, thu nhập sút kém do hoàn cảnh khách quan gây nên thì hợp tác xã mới được xét giảm thuế. Hoàn cảnh khách quan nói ở đây là năng suất lao động bị giảm sút so với trước, do việc cung cấp nguyên liệu tạm thời gặp khó khăn vì hoàn cảnh di chuyển, thiếu điện nước; thu nhập của toàn hợp tác xã bị sút ít nhất khoảng 25% so với trước khi di chuyển, do địa điểm mới chật hẹp không thuận lợi cho sản xuất v.v… chi phí vận tải, chi phí bảo quản tăng. Nếu thu nhập của hợp tác xã sút kém do khuyết điểm chủ quan của hợp tác xã gây nên, như quản lý lao động thiếu chặt chẽ, lãnh đạo tư tưởng không đầy đủ, xã viên không tích cực sản xuất, lợi dụng tình hình, đi lại buôn bán, thì hợp tác xã không được hưởng miễn giảm thuế lợi tức. - Miễn giảm thuế cho thương binh tham gia sản xuất trong các hợp tác xã thủ công nghiệp, vận tải, kiến trúc… Đối với cơ sở sản xuất của thương binh, cần có sự chiếu cố đầy đủ, đồng thời cần khuyến khích các hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, vận tải, kiến trúc, thu nhận thương binh tham gia sản xuất, do đó, điều lệ quy định: - Thương binh tham gia sản xuất trong hợp tác xã, được miễn thuế lợi tức doanh nghiệp về phần mình.
Phần thuế được miễn này hợp tác xã phải giao lại cho người thương binh.