THÔNG TƯ Giải thích và bổ sung một số quy định về việc thống nhất chế độ và tăng cường quản lý chi tiêu trong việc đón tiếp khách nước ngoài (chỉ thị số 12-TTg/TN ngày 5/2/1969 của Thủ tướng Chính phủ). Kính gửi: - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc HĐCP - Các đoàn thể ở Trung ương - Các UBHC khu, tỉnh, thành phố trực thuộc TW. Ngày 5/2/1969, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 12-TTg/TN về việc thống nhất chế độ và tăng cường quản lý chi tiêu trong việc đón tiếp khách nước ngoài. Trong ba năm vừa qua, việc thực hiện chỉ thị nói trên ở các ngành, các địa phương đã đạt kết quả tốt về nhiều mặt: Chúng ta đã chấm dứt được tình trạng chênh lệch giữa các cơ quan, đoàn thể khác nhau trong việc đón tiếp khách; đã ra sức thực hiện phương châm Thủ tướng Chính phủ đề ra là: “xây dựng cho cán bộ và nhân dân ta có đầy đủ nhiệt tình, thái độ khiêm tốn, phong cách lịch sự và giản dị trong việc đón tiếp khách, ra sức khắc phục khó khăn phục vụ tốt việc ăn, ở, đi lại, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho khách, tạo điều kiện cho khách tìm hiểu tình hình, có lợi cho việc tranh thủ khách đến mức cao nhất, bố trí các khoản chi tiêu một cách hợp lý, tiết kiệm, chống phô trương hình thức và lãng phí, tham ô.” Tuy nhiên, thực tiễn của công tác đón tiếp khách nước ngoài trong những năm qua cũng cho thấy là một số quy định trong Chỉ thị số 12-TTg/TN chưa được thực hiện chặt chẽ: có cơ quan đón tiếp khách chưa cân nhắc kỹ các khoản chi tiêu; có nơi, có lúc còn nặng về phô trương hình thức: trong việc chiêu đãi, bố trí người cùng dự tiệc với khác quá đông; tổ chức nhiều bữa cơm thân mật; khách đến thăm, nơi nào cũng đều tổ chức tiệc trà tiếp đón ... Mặt khác, bản thân Chỉ thị số 12-TTg/TN cũng còn thiếu một số quy định cụ thể, đồng thời cũng có một vài quy định đến nay
xét thấy không còn thích hợp nữa. Để quán triệt hơn nữa phương châm của Đảng và Nhà nước trong việc đón tiếp khách nước ngoài,
sau khi đã trao đổi ý kiến với Ban Công tác quốc tế nhân dân và các ngành có liên quan, Bộ Tài chính được sự uỷ nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, ra thông tư này nhằm giải thích và bổ sung một số điểm trong Chỉ thị số 12-TTg/TN ngày 5/2/1969. I/ VỀ PHÂN LOẠI KHÁCH. Ngoài những khách đã phân loại như trong Chỉ thị số 12- TTg/TN, nay quy định thêm: Hạng A: - Những người đứng đầu các tổ chức, đoàn thể của từng lục địa, từng khu vực lớn gồm nhiều nước (thí dụ: Chủ tịch và Phó chủ tịch Hội đồng đoàn kết Á - Phi, Tổ chức đoàn kết 3 châu, Công đoàn Mỹ La tinh, Thanh niên các nước Ả rập, ..). - Những vị đứng đầu một tổ chức, đoàn thể của một nước nhưng là người có danh vọng lớn trong nước đó, hoặc đã từng hoạt động nhiều, có công lao lớn đối với Việt nam. - Những nhà khoa học, văn hoá có tên tuổi. Hạng B: Những vị dẫn đầu các đoàn đại biểu của nhân dân một nước sang thăm hữu nghị nước ta, dù là vị đó chỉ giữ những chức vụ như Vụ trưởng, Cục trưởng hoặc chỉ đứng đầu một địa phương ở trong nước minh. Trường hợp đặc biệt, nếu có những khách khó xếp loại hoặc xét cần phải nâng tiêu chuẩn tiếp đón để đảm bảo yêu cầu đối ngoại, thì cơ quan đón tiếp khách đề nghị cụ thể qua Bộ Ngoại giao (đối với khách của cơ quan Nhà nước) hoặc quan Ban Công tác quốc tế nhân dân (đối với khách của các đoàn thể nhân dân) để xin chỉ thị của Trung ương và Chính phủ. II/ VỀ CÁC TIÊU CHUẨN CHI TIÊU TRONG VIỆC ĐÓN TIẾP KHÁCH. 1/ Tiêu chuẩn nước uống. Ngoài tiêu chuẩn đã quy định, nay thêm tiêu chuẩn nước giải khát như sau: - Khi khách phải chờ đợi ở sân bay để làm thủ tục, có thể chi về nước giải khát mời khách và những người có nhiệm vụ phải ngồi tiếp khách, mỗi người 4 hào (0đ40). - Khi khách đi tham quan một địa phương xa, có thể chi về nước giải khát dọc đường cho khách, mỗi người 4 hào (0đ40). Tiêu chuẩn chi trên đây là mức tối đa; nếu không phải trong mùa nóng, hoặc giờ chờ đợi ở sân bay không lâu, giờ đi địa phương không nhiều thì có thể không phải dùng đến tiêu chuẩn chi này. 2/ Tiêu chuẩn đặt phòng. Tiêu chuẩn đặt phòng cho mỗi loại khách quy định trong Chị thị số 12-TTg/TN là mức tối đa. Cơ quan tiếp khách cần căn cứ yêu cầu cụ thể của từng vị khách, người có hút thuốc thì cần đặt thuốc lá, người cần bánh kẹo, hoa quả thì đặt bánh kẹo, hoa quả, người không cần thì nhất thiết không chi. 3/ Khách vào thăm nước ta, gặp ngày sinh của khác, nếu là người đứng tuổi hoặc là người có danh vọng thì cơ quan đón khách có thể mua hoa chúc mừng khách trong ngày đó. 4/ Việc tặng hoa lúc đón và lúc tiễn khách. Trừ những đoàn rất đông người, như đoàn thể dục thể thao, đoàn nghệ thuật .. thì vẫn thi hành như Chỉ thị số 12-TTg/TN (tặng hoa cho trưởng đoàn và những đoàn viên là nữ), cho tất cả các thành viên trong đoàn theo tiêu chuẩn thống nhất là khoảng 2 đồng (2đ00) một bó hoa. Việc quy định tiêu chuẩn thống nhất này nhằm tránh sự hiểu lầm là các cơ quan của ta đón tiếp khách khác nhau, hoặc là có sự phân biệt đối xử đoàn này trọng, đoàn kia không trọng ... 5/ Tiêu chuẩn mời khách ăn cơm thân mật. - Khi cần mời khách ăn cơm thân mật, nói chung số cán bộ ta cùng ăn với khách nên hạn chế, không quá 3 người. Tuy nhiên, đối với những đoàn khách đông (trên 10 người) hoặc gồm nhiều quốc tịch, nói nhiều thứ tiếng, cần nhiều phiên dịch thì có thể bố trí trên 3 người để đáp ứng yêu cầu về phiên dịch. - Đối với khách loại C, khi mời cơm thân mật, nếu thấy cần thiết thì có thể chi thêm về uống, nhưng nói chung tính cả ăn lẫn uống trong trường hợp này cũng không được vượt tiêu chuẩn của khách loại B. 6/ Tiêu chuẩn chi tiêu khi khách đi địa phương. Cần rất hạn chế việc tổ chức chiêu đãi khách ở địa phương. Khi thật cần thiết, có thể mời cơm thân mật một lần, nhưng cần hạn chế số cán bộ ta cùng ăn với khách; những cán bộ không phải làm việc với khách thì không cần dự. 7/ Tiêu chuẩn chi tiêu về quà biếu. Mức chi tối đa để mua quà biếu đoàn viên là khác loại C nay nâng lên 10 đồng (10đ00) một người. Ngoài những quà biếu từng cá nhân trong đoàn, đối với những đoàn đại biểu quan trọng, nếu họ có những quà biếu chung cho ngành, giới nào đó của ta, thì cơ quan đăng cai việc đón khách, nếu thấy cần thiết, có thể có một quà biếu chung cho đoàn, mức chi tối đa là 100 đồng (100đ00). Quà các địa phương biếu khách tới thăm địa phương chỉ nên gồm một số đặc sản của địa phương, trị giá không nên nhiều hơn số tiền chi để mua quà biếu ở Trung ương; chi phí do địa phương đài thọ. 8/ Về các khoản chi khác. - Ngoài những khoản chi như giặt là, cắt tóc cho khách, cơ quan đón khách có thể chi những khoản đột xuất tối thiểu cần thiết như sửa một vài đồ dùng thường của khách. - Về thuốc chữa bệnh, cơ quan đón khách cần liên hệ với cơ quan y tế để phục vụ trực tiếp theo yêu cầu của khách, không chi tiền mặt. III/ VỀ VIỆC TỔ CHỨC GIẢI TRÍ PHỤC VỤ KHÁCH. Cơ quan quản lý các khách sạn cần cố gắng tổ chức các câu lạc bộ giải trí trong các khách sạn, có những đồ chơi giải trí tối thiểu như: bóng bàn, bi-a, máy thu vô tuyến truyền hình, .... Mỗi khách sạn nên bố trí có đội chiếu bóng để hằng tuần có thể chiếu phim phục vụ khách, phim do cơ quan tuyên truyền đối ngoại chọn. IV/ CHẾ ĐỘ BỒI DƯỠNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ VIỆT NAM PHỤC VỤ KHÁC NƯỚC NGOÀI Để đảm bảo sức khoẻ của cán bộ Việt nam thường phải làm việc khẩn trương suốt trong thời gian khách nước ngoài ở thăm Việt nam, tạo điều kiện cho những cán bộ đó hoàn thành tốt nthiệm vụ phục vụ khách trong bất cứ hoàn cảnh nào, nay quy định chế độ bồi dưỡng đối với những cán bộ Việt nam phục vụ các đoàn khách nước ngoài như sau: 1/ Những cán bộ cần làm việc hằng ngày với khách (như cán bộ lễ tân, cán bộ phiên dịch, lái xe, y tế, bảo vệ) trong suốt thời gian khách ở Việt nam, ngày nào có thực sự phục vụ khách, thì được phụ cấp mỗi người một đồng (1đ00) một ngày, tính từ ngày khách vào Việt nam đến hết ngày khách lên đường về nước. Trường hợp đi cùng với khách về các địa phương, thì những ngày đi trên đường được hưởng phụ cấp nói trên thay cho phụ cấp đi đường theo chế độ hiện hành. 2/ Để thuận tiện cho việc phục vụ khách, các khách sạn cần tổ chức cho tất cả những cán bộ Việt nam kể trên có thể ăn tại khách sạn 2 bữa chính và 1 bữa sáng, theo mức 1đ50 một ngày (kể cả phụ phí) và có chỗ nghỉ tạm buổi trưa và ngủ tối trong suốt thời gian phải phục vụ khách. 3/ Những cán bộ phục vụ khách, nếu phải làm việc vào những ngày nghỉ, giờ nghỉ hoặc làm đêm, thì cơ quan cần thu xếp cho nghỉ bù sau khi hoàn thành mỗi đợt đón tiếp khách. Những cơ quan phải đón khách liên miên, không có điều kiện cho nghỉ bù ngay thì sau từng thời gian vài ba tháng, phải sắp xếp cho nghỉ bù một đợt. Chế độ cho nghỉ bù trên đây thay cho chế độ phụ cấp làm thêm giờ, làm đêm. Trên đây là những quy định bổ sung chế độ chi tiêu về việc đón tiếp khách nước ngoài vào thăm Việt nam và chế độ bồi dưỡng đối với những cán bộ ta trực tiếp phục vụ các đoàn khách đó. Đối với cán bộ phục vụ các chuyên gia nước ngoài, đề nghị Cục Chuyên gia đưa theo những điều bổ sung của Thông tư này và cùng Bộ Tài chính nghiên cứu quy định chế độ thích hợp. Để thi hành tốt nữa Chỉ thị số 12-TTg/TN ngày 5/2/1969 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đề nghị các ngành và các địa phương cho phổ biến Thông tư này tới các thủ trưởng và các cán bộ, nhân viên các đơnvị cơ quan Nhà nước, các đoàn thể nhân dân có nhiệm vụ đón tiếp hay trực tiếp phục vụ khách nước ngoài ở Trung ương và ở các tỉnh, đồng thời thường xuyên phản ánh những khó khăn mắc mứu cùng những kinh nghiệm quản lý chi tiêu thông qua việc báo cáo quyết toán các khoản chi tiêu đón tiếp các đoàn khách nước ngoài, để giúp cho Bộ Tài chính làm được tốt công việc kiểm tra, giúp đỡ các ngành, các địa phương và đảm bảo việc báo cáo được đều đặn lên Thủ tướng Chính phủ tình hình chấp hành Chỉ thị./.